vanban.org

Bản án 311/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị Bích T với ông Hà Văn B là quan hệ vợ chồng. Về quan hệ con chung: Ông Hà Văn B được tiếp tục nuôi 03 con chung Hà Huỳnh N, sinh ngày 26/11/2013; Hà Quỳnh L, sinh ngày 22/4/2016 và Hà Gia B1, sinh ngày 22/3/2018. Bà Trần Thị Bích T không phải cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 311/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 8 - 2026.
Về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Thanh Lan;

2. Ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Lương Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11- An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2026 tại:

- Đ cầu T: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang;

- Điểm cầu thành phần: Văn phòng ấp L, xã C.

Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 526/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 310/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích T, sinh ngày 29/3/1996; căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú: số A, tổ E, ấp T, xã C, tỉnh An Giang (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Hà Văn B, sinh năm 1995; căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã C, tỉnh An Giang

(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 09/6/2026 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông B được hình thành là do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, nhưng không đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung hạnh phúc đến 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông B không lo làm ăn, kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến bất đồng và gây cãi nhau, bà bỏ nhà ra thuê trọ sinh sống và ly thân với ông B từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông B.

Về quan hệ con chung: Bà với ông B có 03 con chung tên Hà Huỳnh N, sinh ngày 26/11/2013; Hà Quỳnh L, sinh ngày 22/4/2016 và Hà Gia B1, sinh ngày 22/3/2018. Hiện cả 03 con chung sinh sống cùng ông B. Khi ly hôn, bà đồng ý giao 03 con chung cho ông B tiếp tục nuôi. Bà xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông B không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông B không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Hà Văn B để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà T – ông B chung sống nhau từ năm 2013, nhưng không đăng ký kết hôn, nên đề nghị HĐXX tuyên không công nhận bà T – ông B là quan hệ vợ chồng; về 03 con chung tên Hà Huỳnh N, Hà Quỳnh L và Hà Gia B1 hiện trên 07 tuổi với ý nguyện tiếp tục sống cùng ông B, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận cho ông B tiếp tục nuôi. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Hà Văn B được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt ông B theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền: Bà T khởi kiện ly hôn với ông B là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông B có địa chỉ cư trú tại xã C, tỉnh An Giang, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà T – ông B được hình thành là do hai người tự tìm hiểu và chung sống nhau từ năm 2013; lẽ ra bà T – ông B phải tuân thủ pháp luật, đăng lý kết hôn theo quy định, nhưng giai đoạn hòa giải bà T trình bày từ trước đến nay bà với ông B vẫn chưa đăng ký kết hôn. Trình bày của bà T phù hợp với kết quả xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C ngày 16/6/2026, nơi bà T - ông B đăng ký hộ khẩu, nên HĐXX áp dụng Điều 53 Luật nhân và đình tuyên không công nhận bà Trần Thị Bích T với ông Hà Văn B là quan hệ

vợ chồng.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy các cháu Hà Huỳnh N, Hà Quỳnh L, Hà Gia B1, từ khi cha mẹ ly thân nhau đến nay thì các cháu do ông B nuôi và chăm sóc. Tình cảm giữa các cháu với ông B đã thật sự gắn bó. Các cháu hiện trên 07 tuổi với ý nguyện tiếp tục sinh sống với với cha. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của các cháu cũng như tạo điều kiện cho các cháu phát triển tốt về sau HĐXX giao các cháu N, L và B1 cho ông B tiếp tục nuôi là phù hợp.

HĐXX cũng giải thích cho ông B biết: Trong thời gian nuôi con, ông B cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng ông B hiện không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T khai, bà với ông B không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông B vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này ông B có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và ông B có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bà Trần Thị Bích T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 53, 81, 82, 83, 84 Luật nhân và đình; các Điều 144, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị Bích T với ông Hà Văn B là quan hệ vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Ông Hà Văn B được tiếp tục nuôi 03 con chung Hà Huỳnh N, sinh ngày 26/11/2013; Hà Quỳnh L, sinh ngày 22/4/2016 và Hà Gia B1, sinh ngày 22/3/2018. Bà Trần Thị Bích T không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

Ông B cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0002391 ngày 11/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (bà T nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/8/2026), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

Cỡ chữ