vanban.org

Bản án 311/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt.

Tuyên bố: bị cáo Trần Bảo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: bị cáo Trần Bảo T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bảo Tiến - Trộm cắp tài ản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kền

2. Bà Trần Thị Kim Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Viên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 298/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2023/QĐXXST-HS ngày 11/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Bảo T (tên gọi khác: không) sinh ngày 05 tháng 02 năm 1974, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 1999. Tiền sự: không có.

Tiền án: Ngày 30/8/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 98/2018/HSPT, ngày 01/7/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 24/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 249/2020/HSST; ngày 03/11/2021, chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân: ngày 12/9/2002 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 215/HS; ngày 19/10/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 213/2005/HSST.

Bị bắt áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt

- Bị hại: ông Nguyễn Duy C, sinh năm: 1960; nơi cư trú: tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người làm chứng:

Ông Phạm Văn D, vắng mặt; Ông Phan Văn C1, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 28/9/2023 Trần Bảo T đi xe bus từ thành phố C về H xuống xe ở chân dốc bưu điện tỉnh Quảng Ninh. Do không có tiền chi tiêu, T nảy sinh ý định vào bệnh viện để trộm cắp tài sản. Vào khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T đi vào khu vực nhà C, bệnh viện đa khoa tỉnh Q. Khi T đến trước cửa phòng bệnh 1.4, tầng 01 thì thấy 01 chiếc diện thoại di động màu đen đang được cắm sạc để ở cửa sổ của ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1960, trú tại: tổ D, khu D, phường H, thành phố H. T quan sát không có người xung quanh nên đã dùng tay rút dây sạc ra khỏi máy điện thoại di động, sau đó cầm điện thoại di động ở tay phải và đi ra. Khi ra gần đến cửa khoa nội tim mạch thì bị anh Phạm Văn D, sinh năm 1977, trú tại: tổ B, khu B, phường C, thành phố H hỏi T: “Điện thoại này có phải là điện thoại của anh không”. T không nói gì và tiếp tục đi ra khỏi cửa khoa nội tim mạch, anh D đi theo và bảo đi ra ngoài gặp bảo vệ. Thấy đã bị phát hiện trộm cắp tài sản nên T bỏ điện thoại di động cho vào túi áo ngực của anh D và bảo “Em đã lỡ lấy rồi, anh trả lại giúp cho em” và định bỏ chạy nhưng bị anh D túm cổ tay không bỏ chạy được. Sau đó, anh D đưa lại điện thoại di động cho T và yêu cầu quay lại để trả lại điện thoại di động. T cùng anh D quay lại vị trí ông C nằm và để lại điện thoại di động vào chỗ T đã lấy trộm của ông C, sau đó T bỏ chạy về hướng đi ra cổng khoa nội tim mạch. Anh Dũng hô hoán “Ăn trộm, ăn trộm” và đuổi phía sau T, T bỏ chạy ra gần đến cửa nhà hệ nội, tòa nhà C thì bị bảo vệ và mọi người tại bệnh viện đa khoa tỉnh Q giữ lại và báo Công an phường B, thành phố H đến làm việc, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 186 ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H thể hiện: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A16, màu đen, bộ nhớ Ram 3Gb, dung lượng bộ nhớ 32Gb, đã qua sử dụng, mua mới tháng 3/2022, thời điểm định giá tháng 9/2023, trị giá 2.480.000đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã cho T xem lại dữ liệu camera thu giữ tại khu vực hành lang gần tầng 01 tòa nhà C, khoa tim mạch bệnh viện đa khoa tỉnh Q. T xác nhận người đàn ông mặc quần áo ngắn tay màu trắng, đội mũ, tay cầm điện thoại lấy trộm được trong dữ liệu camera chính là T.

Bị hại Nguyễn Duy C có lời khai: Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 28/9/2023, ông cắm sạc điện thoại nhãn hiệu OPPO A16 ở phía ngoài trên khung cửa sổ phòng 1.4 rồi quay mặt vào tường ngủ. Đến khoảng 12 giờ 40 phút ông nghe thấy tiếng mọi người nói ồn ào nên tỉnh dậy thì thấy 01 nguồi đàn ông lạ mặt (sau này được biết là T1 bảo T) đang cầm điện thoại di động của mình để lại chỗ cũ rồi bỏ chạy đến cổng khoa bị mọi người giữ lại.

Người làm chứng anh Phạm Văn D và ông Phan Văn C1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại.

Tại Cáo trạng số 294/CT-VKSHL ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo Trần Bảo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Trần Bảo T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hạ Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.

Người làm chứng là Phạm Văn C2 có mặt tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cơ quan điểu tra và không có ý kiến gì thêm.

Bị hại Nguyễn Duy C có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Do chiếc điện thoại của ông đã được thu hồi, cơ quan điều tra đã trả điện thoại cho ông nên ông không có ý kiến gì, không yêu cầu bồi thường dân sự, ông đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Bảo T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Bảo T từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Phù hợp với lời khai của những người chứng kiến

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, dữ liệu camera thu giữ tại khu vực hành lang gần tầng 01 tòa nhà C, khoa tim mạch bệnh viện đa khoa tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/9/2023 tại trước cửa phòng bệnh tầng 01, khu vực nhà C của bệnh viện đa khoa tỉnh Q, thuộc tổ E, khu D, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Bảo T có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16, màu đen, bộ nhớ Ram 3Gb, dung lượng bố nhớ 32Gb, trị giá 2.4800.000đ (hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) của ông Nguyễn Duy C thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do Trần Bảo T đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi của Trần Bảo T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc đưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

g) Tái phạm nguy hiểm.”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đặc biệt là đối với những người bệnh đang điều trị tại bệnh viện, làm mất trật tự trị an, tạo nên tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì không có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của các bị hại, cố ý lén lút trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù, cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ:

Về các tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản đã được trả lại cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm và không có tài sản, bị cáo hiện đang tạm giam khó có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại chiếc điện thoại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Điện thoại di động Oppo A16 màu đen đã được trả lại cho bị hại Nguyễn Duy C theo Quyết định xử lý vật chứng số 93/QĐ ngày 06/10/2023 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt.

Tuyên bố: bị cáo Trần Bảo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Bảo T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2023.

2. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, bị cáo Trần Bảo T có nghĩa vụ nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ