vanban.org

Bản án 311/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn L 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2023/HS-ST
Ngày: 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lài

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Văn Tâm;

2. Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 324/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn L, sinh năm 1999 tại An Giang; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Phạm Thị M; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 08/7/2023, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2023 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: số nhà 625/5, tổ 11, khu phố 4, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: khu phố 3, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp 2, xã P, Long T, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: số 67, đường DC7, khu phố 4, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có mặt;

- Ông Huỳnh Thành L, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn V, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; tạm trú: tổ 2, khu phố 4, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt;

- Bà Tạ Thị Phương T, sinh năm 1971; địa chỉ; khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn L và bà Phạm Thị L cùng làm công nhân tại Công ty TNHH Phương Vy thuộc khu Công nghiệp Vsip II A, phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/7/2023, trong lúc nghỉ trưa L đi đến khu vực gần nhà xe để hút thuốc lá, L nhìn thấy xe mô tô biển số 67C1-488.55 của bà Phạm Thị L đang để ở trong nhà xe của công ty. L biết bà Lá có cất tiền và một số nữ trang vàng trong cốp xe nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà Lá mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, L đi bộ đến gần vị trí xe mô tô 67C1-488.55, quan sát xung quanh thấy không có người nên dùng tay trái kéo yên xe lên và dùng tay phải đưa vào bên trong cốp xe lấy ra 01 cái ví da màu đen, mở ví ra kiểm tra, L nhìn thấy có số tiền là 3.000.000 đồng và một số nữ trang gồm 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trên có khắc chữ “MLAN CT 23V”; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có khắc chữ “T.DANH610”; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, mặt hình bông hoa, bên trên có khắc chữ “N.HEN9901C”; 01 vòng đeo tay hình tròn bằng kim loại màu vàng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có khắc chữ “A.HOA610”; 01 lắc tay hình dạng mắt xích bằng kim loại màu vàng, bên trên có khắc chữ “KHS610Q”; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, bên trên có đính hạt màu trắng, phía trên có khắc chữ “KHS610”; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trên có khắc chữ “KHS610P”; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt hình I, trái tim màu xanh, U bên trên có ghi chữ “LN.610 KL TV”; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt hình hoa, đính hạt màu trắng, bên trên có khắc chữ “KM* 610 TRI”; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt có 04 hình trái tim, đính hạt màu trắng, bên trên có khắc chữ “KHL*610TV*KM*”; 01 nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng. L lấy toàn bộ số tài sản trên ra khỏi chiếc ví cất giấu vào trong túi quần đang mặc, ví da thì L để trở lại vào trong cốp xe mô tô 67C1-488.55, sau đó L đi về nhà xưởng của công ty tiếp tục làm việc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi tan ca L điều khiển xe mô tô 67C1-213.52 của L đi đến tiệm vàng Kim Gia Phát ở phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát do ông Huỳnh Văn T làm chủ, gặp ông Huỳnh Thành L là nhân viên bán hàng bán 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 03 chỉ được số tiền là 12.400.000 đồng (sau đó tiệm vàng Kim Gia Phát đã nung chảy chiếc lắc tay trên thành một thỏi kim loại màu vàng). Tiếp đến, L tiếp tục đi đến tiệm vàng Kim Minh T do bà Tạ Thị Phương T làm chủ, gặp bà Nguyễn Thị T là quản lý bán tiếp 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trên có khắc chữ “MLAN CT 23V”, trọng lượng 05 chỉ và 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có khắc chữ “T.DANH610”, trọng lượng 03 chỉ được số tiền là 36.414.000 đồng.

Sau đó, L đi đến cửa hàng Thế giới di động và Điện máy xanh tại phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát mua 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8 với giá 9.490.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím với giá 27.670.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ tại khu phố 4, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát. L cất giấu toàn bộ số tiền và số nữ trang bằng kim loại màu vàng còn lại vào trong 01 túi da màu đen trong phòng trọ.

Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi tan ca, bà Lá điều khiển xe mô tô biển số 67C1-488.55 đi về phòng trọ, khi đi về gần đến phòng trọ mở cốp xe mô tô ra để lấy tiền mua đồ ăn thì phát hiện bị mất toàn bộ số tiền 3.000.000 đồng và nữ trang để bên trong chiếc ví da màu đen nên đến Đồn Công an khu công nghiệp thành phố Tân Uyên trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo, qua truy xét, Công an đến phòng trọ của L mời L về trụ sở làm việc. Qua làm việc, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm 3.000.000 đồng và toàn bộ số nữ trang trong ví da màu đen của bà Phạm Thị L và thu giữ vật chứng gồm: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trên có khắc chữ “MLAN CT 23V”, trọng lượng 05 chỉ; 01 lắc tay bằng kim loại, màu vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có khắc chữ “T.DANH610”, trọng lượng 03 chỉ do bà Nguyễn Thị T giao nộp; 01 thỏi bằng kim loại, màu vàng do ông Huỳnh Văn T giao nộp; 01 lắc tay bằng kim loại, màu vàng, trọng lượng 03 chỉ; 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng, mặt hình bông hoa, bên trên có khắc chữ “N.HEN9901C”, trọng lượng 01 chỉ; 01 vòng đeo tay hình tròn bằng kim loại, màu vàng, trọng lượng 01 chỉ; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có khắc chữ “A.HOA610”, trọng lượng 03 chỉ; 01 lắc tay hình dạng mắt xích bằng kim loại, màu vàng, bên trên có khắc chữ “KHS610Q”, trọng lượng 01 chỉ; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, bên trên có đính hạt màu trắng, phía trên có khắc chữ “KHS610”, trọng lượng 07 phân; 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng, bên trên có khắc chữ “KHS610P”; 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng, mặt hình I, trái tim màu xanh, U bên trên có khắc chữ “LN.610 KL TV”; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt hình hoa, đính hạt màu trắng, bên trên có khắc chữ “KM* 610 TRI”; 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng, mặt có 04 hình trái tim, đính hạt màu trắng, bên trên có khắc chữ “KHL*610TV*KM*”; 01 nhẫn kim tiền bằng kim loại, màu vàng; số tiền 15.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím giao nộp.

Sau khi xác lập hồ sơ ban đầu, Đồn công an khu công nghiệp tiến hành bàn giao L cùng hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Chứng thư giám định số 0051/N1.23/TD ngày 26/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 Thành phố Hồ Chí Minh kết luận số nữ trang bằng kim loại màu vàng có hàm lượng và khối lượng cụ thể như sau:

- 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trên có ghi chữ “T.DANH610”, trọng lượng 18,7789 gam, loại 23K.

- 01 lắc tay bằng hợp kim vàng, hình dạng mắc xích, bên trên có ghi chữ “T.DANH610”, trọng lượng 12,9370 gam, loại 14K.

- 01 đôi bông tai bằng hợp kim vàng, mặt hình bông hoa, bên trên có ghi chữ “N.HEN9901C”, trọng lượng 3,7725 gam, loại 23K.

- 01 đôi bông tai bằng hợp kim vàng, bên trên có đính hạt màu trắng, phía trên có ghi chữ “KHS610”, trọng lượng 2,4646 gam, loại 14K.

- 01 vòng đeo tay bằng hợp kim vàng, trọng lượng 2,3628 gam, loại 14K.

- 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, hình dạng mắt xích, bên trên có ghi chữ “A.HOA610”, trọng lượng 12,2830 gam, loại 14K.

- 01 lắc tay hình dạng mắt xích bằng hợp kim vàng, bên trên có ghi chữ “KHS610Q”, trọng lượng 3,9101 gam, loại 14K.

- 01 nhẫn bằng hợp kim vàng, mặt hình I, trái tim màu xanh, U, bên trên có ghi chữ “LN.610 KL TV”, trọng lượng 1,2774 gam, loại 14K.

- 01 nhẫn bằng hợp kim vàng, mặt hình hoa, đính hạt màu trắng, bên trên có ghi chữ “KM* 610 TRI”, trọng lượng 1,2221 gam, loại 14K.

- 01 nhẫn bằng hợp kim vàng, mặt có 04 hình trái tim, đính hạt màu trắng, bên trên có ghi chữ “KHL*610TV*KM*”, trọng lượng 3,1546, loại 14K.

- 01 nhẫn bằng hợp kim vàng, bên trên có ghi chữ “KHS610P”, trọng lượng 1,0214 gam, loại vàng 14K.

- 01 nhẫn kim tiền bằng hợp kim vàng, trọng lượng 0,9741gam, loại 14K

- 01 thỏi bằng hợp kim vàng, trọng lượng 11,2350 gam, loại 23K.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 132/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Tân Uyên kết luận tổng giá trị số nữ trang bằng hợp kim vàng nêu trên là 87.710.540 đồng. Đối với số nữ trang bằng hợp kim vàng đã thu giữ là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị L. Ngày 02/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 91 trả lại cho bà Phạm Thị L.

Bản Cáo trạng số 335/CT-VKSTU ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án và giao Chi cục Thi hành án thành phố Tân Uyên bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím để khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị L số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Huỳnh Văn T số tiền 12.400.000 đồng và bà Tạ Thị Phương T số tiền 36.414.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và hứa sẽ không vi phạm pháp luật nữa, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L khai nhận: Ngày 08/7/2023, tại Công ty TNHH Phương Vy thuộc khu Công nghiệp Vsip II A, phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, Lê Văn L có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Phạm Thị L số tiền 3.000.000 đồng và nữ trang bằng hợp kim vàng có giá trị 87.710.540 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 90.710.540 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị L số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt; bồi thường cho ông Huỳnh Văn T số tiền 12.400.000 đồng và bà Tạ Thị Phương T số tiền 36.414.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án và giao Chi cục Thi hành án thành phố Tân Uyên bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím để khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

Đối với ông Huỳnh Thành L và bà Nguyễn Thị Tùng do không biết số vàng đã mua là tài sản của bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên không đề cập xử lý, là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị L số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); bồi thường cho ông Huỳnh Văn Tài số tiền 12.400.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và bà Tạ Thị Phương Thảo số tiền 36.414.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm mười bốn nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím và số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo uỷ nhiệm chi ngày 05/12/2023.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 05/12/2023 để đảm bảo thi hành án và giao Chi cục Thi hành án thành phố Tân Uyên bán đấu giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím để khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.590.700 đồng (Hai triệu năm trăm chín mươi nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.

Cỡ chữ