- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Trà M về việc “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” đối với ông Đoàn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 311/2023/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 8 năm 2023 Về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:
Ông Phùng Văn Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 115/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tôn Nữ Trà M, sinh năm 1969.
- Bị đơn: Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1972.
Cùng trú tại: Phòng 512 Khu 2B chung cư P B, tổ 10, phường H T Đ, quận C L, thành phố Đ N. (bà M có mặt; ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Trà M như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi Tôn Nữ Trà M kết hôn với ông Đoàn Văn D vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H T Đ, quận C L, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chúng tôi về sinh sống tại tổ 10, phường H T Đ, quận C L, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hiện tại đã sống ly thân. Nay tôi không còn tình cảm vợ chồng với ông D nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đoàn Văn D.
- Về con chung: Tôi và ông Đoàn Văn D có 02 con chung là Đoàn Phước Thành Nhân, sinh ngày 16/8/2000 và Đoàn Phước Vân Anh, sinh ngày 23/12/2007. Ly hôn, tôi có nguyện vọng nhận trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đoàn Phước Vân Anh, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung Đoàn Phước Thành Nhân đã thành niên nên không yêu cầu hội đồng xét xử xem xét
-Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có.
*Đối với ông Đoàn Văn D: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Đoàn Văn D vẫn vắng mặt không có lý do và không có bảng khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Tôn Nữ Trà M được ly hôn ông Đoàn Văn D.
- Về con chung: Ly hôn giao con chung Đoàn Phước Vân Anh sinh ngày 23/12/2007 cho bà M là trực tiếp nuôi dưỡng, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Tôn Nữ Trà M phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Đoàn Văn D có hộ khẩu thường trú tại tổ 10 phường H T Đ, quận C L, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có thẩm quyền giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn ông Đoàn Văn D vẫn vắng mặt và không có lý do về việc vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Bà Tôn Nữ Trà M và ông Đoàn Văn D kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, theo Giấy đăng ký kết hôn số 11 ngày 22 tháng 01 năm 2013. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, bà M xác định không còn tình cảm với ông D, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhau. Tại phiên tòa bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn ông Đoàn Văn D. Căn cứ vào kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xác định vợ chồng có mâu thuẫn trong cuộc sống, ông D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, điều đó thể hiện ông không còn thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà Tôn Nữ Trà M là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà M và ông D có 02 con chung tên là Đoàn Phước Thành Nhân, sinh ngày 16/8/2000 và Đoàn Phước Vân Anh, sinh ngày 23/12/2007.Ly hôn, nguyện vọng bà M là trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đoàn Phước Vân Anh, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung Đoàn Phước Thành Nhân đã thành niên nên không đề cập đến.
Về tài sản chung nợ chung: Bà M xác định không có, ông D không có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Tôn Nữ Trà M phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Trà M về việc “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” đối với ông Đoàn Văn D.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Tôn Nữ Trà M được ly hôn ông Đoàn Văn D.
2. Về con chung: Ly hôn giao con chung Đoàn Phước Vân Anh sinh ngày 23/12/2007 cho bà Tôn Nữ Trà M là trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đoàn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3 . Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Tôn Nữ Trà M phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009486 ngày 05/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, bà M đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng; - CCTHADS quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng; - UBND phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ Thành phố Đà Nẵng (số 11 năm 2013); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Văn Nhớ |