vanban.org

Bản án 311/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "X Vàng - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2019/HSPT
Ngày: 24/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Quốc Cường

Ông Trương Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hiệp, Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 342/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối vớ

về tội “

ất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bả

ẩm số 23/2019/HS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1995 tại huyện K

B, nướ

ộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắ

P, huyện K

B, nướ

ề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộ

ốc tị ông L

C

ợ tên T

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13 tháng 10 năm 2018, đến ngày 16 tháng 10 năm 2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Trương Văn B1 –

Đo

mặt.

- Người phiên dịch, dịch thuật cho bị cáo X Vàng: Ông Phan Văn M - Nguyên cán bộ Ủy ban hợp tác kinh tế, văn hóa với Lào và Campuchia; địa chỉ: Số 20 đường Tr, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

(Ngoài ra trong vụ án còn có 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; 01 người làm chứng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12 tháng 10 năm 2018, Tổ tuầ

H

L

-091.02 để kiể quan có thẩm quyền đã tiến hành lập biên bản sự việc, khám nghiệm hiện trường, kiểm tra khoang lái của xe và niêm phong khoang đựng hàng phía sau xe ô tô biển số 86C-091.02.

ứ nh quan.

- 09

P

K nh B

Sau khi tiến hành giám đị

-

-

ế

-

Tại Cơ quan điều tra,

khai nhận:

cùng xe với X Vàng đã bị

–

-

năm 2018,

ại khách sạn,

thuê C

ậ

X Vàng khai không kiểm tra và không biết khối lượng cụ thể nhưng biết

thuê với số tiền rất lớn).

-C

H

L

018,

khai do

–

C

ề nguồn gốc số ma túy này.

B

23/2019/HS-ST ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

Tuyên bố: Bị cáo

phạm tội: “

ất ma túy”;

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 40, Điều 5 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo

T

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo X Vàng.

Căn cứ khoản 4 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo X Vàng để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 9 năm 2019, bị cáo X Vàng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

ẩm:

ấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

+ Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết.

+ Luật sư bào chữa cho bị cáo X Vàng cho rằng bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử theo điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm thuê theo chỉ đạo hướng dẫn của

, nhất thời phạm tội, phạm tội với vai trò thứ yếu, là người thực hành, nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo

khai nhận toàn bộ khối lượng 308,6kg Methamphetamine máy bay để về

một người có tên là

.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc lập lúc 15h ngày 12/10/2018, biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 15h35 phút ngày 12/10/2018, biên bản kiểm tra phương tiện là xe ô tô BKS 86C – 091.02 lúc 17h ngày 12/10/2018, biên bản khám xét lúc 08h15 phút ngày 17/10/2018 của Công an tỉnh Quảng Bình; phù hợp với

-

-

. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để kết luận:

ị cáo

đã phạm vào tội “

ất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm quy kết là có căn cứ và đúng người và đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Tệ nạn ma túy gây ra tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe, nhân cách người bị nghiện, đến đời sống xã hội và hiện nay, tệ nạn ma túy đang là mối hiểm họa, là vấn đề gây nhức nhối cho toàn xã hội, gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến sức khỏe con người và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, đối với loại tội phạm ma túy cần phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục; trong vụ án này, bị cáo

vận chuyển số lượng 308.6kg Methamphetamine là khối lượng đặc biệt lớn; theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự thì từ 100 gam Heroin đã bị xét xử ở khoản này. Cho nên, cần phải áp dụng mức hình phạt cao nhất mới phù hợp với tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính, gia đình là người có công với Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Lào nhưng với số lượng vận chuyển 308.6kg Methamphetamine thì cũng phải áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không thể chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo

và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 40, Điều 5 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo

Tử hình.

Căn cứ khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo

để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 367 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo

được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị về xử lý vật chứng, về án phí sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo

phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ