- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Nguyên Đ Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Võ Nguyên Đ (Tên gọi khác: R) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 310/2022/HS-ST Ngày 20 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 289/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Võ Nguyên Đ (Tên gọi khác: R), sinh ngày 02/01/1988 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số 01/22 X, phường A.Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Nguyên Đ1 và bà Trang Thị Thu T; vợ: Lê Uyên N; con: Có 01 con, sinh năm 2018; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án; Ngày 26/7/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bản án số 156/2013/HSST và chưa thi hành án phí, hình phạt bổ sung và tiền thu lợi bất chính).
Nhân thân: Ngày 07/4/2003 bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 16/10/2003 bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Võ Văn P, sinh năm 1964; nơi cư trú: 20/24 X, phường A.Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 08/8/2022, Võ Nguyên Đ đi chơi ngang qua nhà ông Võ Văn P tại địa chỉ 20/24 X, phường A.Đ, thành phố H thì thấy phía sau khuôn viên vườn của ông P có nhiều cây hoàng mai cảnh trồng trong chậu nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 09/8/2022, lợi dụng trời mưa, đêm tối và khi mọi người đã ngủ, Đ đi bộ đến nhà ông P, đột nhập vào bên trong vườn rồi dùng tay nắm lấy gốc cây mai nhổ ra khỏi chậu đưa về nhà mình cất giấu. Sau đó, Đ đi mua 03 chậu mới và trồng 03 cây mai vàng đã trộm cắp được để trong khuôn viên nhà Đ.
Sau khi bị mất trộm 03 cây mai vàng nêu trên, ông P đi tìm và phát hiện trên ban công và trong khuôn viên nhà Đ có 03 cây mai cảnh có đặc điểm giống 03 cây mai bị mất trộm nên đã trình báo Công an phường A.Đ, thành phố H. Qua điều tra và đấu tranh, Võ Nguyên Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) cây mai vàng thế trực, cao 70cm, tán 40cm, chu vi gốc 10cm; 01 (một) cây mai vàng thế trực, cao 40cm, tán 30cm, chu vi gốc: 12cm và 01 (một) cây mai vàng thế bay, cao 90cm, tán 60cm, chu vi gốc: 08cm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 218/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 (một) cây mai vàng khoảng 14 năm tuổi, thế trực, cao 70cm, tán 40cm, chu vi gốc 10cm trị giá 3.000.000 đồng; 01 (một) cây mai vàng khoảng 17 năm tuổi, thế trực, cao 40cm, tán 30cm, chu vi gốc: 12cm trị giá 2.500.000 đồng và 01 (một) cây mai vàng khoảng 14 năm tuổi, thế bay, cao 90cm, tán 60cm, chu vi gốc: 08cm trị giá 3.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 08/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế có Quyết định xử lý vật chứng số 186/QĐ-CQĐT, trả lại 03 cây mai vàng đã thu giữ cho bị hại là ông Võ Văn P.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Văn P đã nhận lại 03 cây mai vàng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ông P có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Võ Nguyên Đ.
Tại bản cáo trạng số 308/CT-VKSTPH ngày 18/11/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Võ Nguyên Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Nguyên Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Văn P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Nguyên Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Nguyên Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 09/8/2022, lợi dụng trời mưa, đêm tối và khi mọi người đã ngủ say, Võ Nguyên Đ lén lút đột nhập vào vườn nhà của ông Võ Văn P tại địa chỉ 20/24 X, phường A.Đ, thành phố H, dùng tay nhổ 03 cây hoàng mai đang trồng trong chậu của ông P đưa về trồng vào trong 03 chậu khác để trong khuôn viên nhà của mình, sau đó thì bị phát hiện. Qua định giá, giá trị 03 cây hoàng mai mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 8.500.000 đồng.
Hành vi nên trên của bị cáo Võ Nguyên Đ đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Võ Nguyên Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì để thỏa mãn thú vui chơi cây cảnh của bản thân, bị cáo đã lợi dụng đêm khuya, lúc mọi người ngủ say, mất cảnh giác để lén lút chiếm đoạt 03 cây hoàng mai của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thì thấy: Bị cáo đã từng bị xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bản thân bị cáo đang có tiền án mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo cũng đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Võ Văn P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Võ Nguyên Đ phải chịu án phí hình sự theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố:
Bị cáo Võ Nguyên Đ (Tên gọi khác: R) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Nguyên Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2022.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Nguyên Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT – Huế (Phòng KTNV); - Phòng PV06 Công an tỉnh TT – Huế; - Sở Tư pháp; - VKSND thành phố Huế; - Công an thành phố Huế (Phòng THAHS); - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Bị hại, - Lưu HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |