vanban.org

Bản án 310/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu xem xét lại về trách nhiệm dân sự của đại diện hợp pháp và luật sư ào chữa cho b cáo Nguyễn Ngọc S và đại diện hợp pháp cho b cáo Trần Quốc D. Chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 10/QĐ- VC2 ngày 20/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc S và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 102 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 310/2022/HS-PT
Ngày: 11-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Phước Thanh

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tào

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tấn Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 268/2022/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 đối với cáo Nguyễn Ngọc S và đồng phạm về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 03/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có kháng cáo

1/ Nguyễn Ngọc S, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 12/9/2005; n i cư trú: tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, con à Đinh Th S, sinh năm 1979, Có 01 em;

Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 15/6/2021, Chủ t ch ủy an nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh người khác.

B cáo ắt tạm giam từ ngày 29/10/2021. Có mặt.

2/ Lê Minh H, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 16/02/2005; n i cư trú: xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Lê Minh S, sinh năm 1971, con à Thái Th T, sinh năm 1973, Có 01 anh.

Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 15/6/2021, Chủ t ch ủy an nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi đánh người khác.

B cáo ắt tạm giam từ ngày 29/10/2021. Có mặt.

3/ Trần Quốc D, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 25/12/2006; n i cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm 1971, con à Nguyễn Th L, sinh năm 1977, có 02 ch , 01 anh.

Tiền sự, tiền án: Không.

B cáo ắt tạm giam từ ngày 29/10/2021. Có mặt

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc S: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, à Đinh Th S, sinh năm 1979; n i cư trú: xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; Đều có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc S: Ông Nguyễn Thanh M, là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Minh H: ông Lê Minh S, sinh năm 1971, à Thái Th T, sinh năm 1973; n i cư trú: xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; Đều có mặt

Ngườỉ bào chữa cho bị cáo Lê Minh H: Ông Nguyễn N, là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cảo Trần Quốc D: Ông Trần Văn D, sinh năm 1978, à Nguyễn Th L, sinh năm 1977; n i cư trú: xã Đ, huyện Sông Hình, tỉnh Phú Yên; Đều có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc D: Ông Ngô Văn T, là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.

Bị hại: Lê Quốc K, sinh ngày 02/9/2005; n i cư trú: huyện S Hòa, tỉnh Phú Yên;Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Hoài V, sinh năm 1977; n i cư trú: huyện S Hòa, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trần Th Như T, là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không kháng cáo, kháng ngh .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 02/4/2021, Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H, Trần Quốc D, Lê Thanh B và Bùi Vinh D ch i tại nhà S ở thôn Tuy B, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên thì có nhóm thanh niên ở huyện S Hòa, tỉnh Phú Yên gồm: Nguyễn Anh R, Lê Anh T; Lê Quốc K, sinh ngày 02/9/2005 và một số thanh niên (không xác đ nh) điều khiển xe mô tô đến, có người nẹt pô xe, la ó, chửi ới và ném gạch, đá vào nhà trúng chân em gái của S nhưng không gây thư ng tích gì nên S ảo H giúp đánh lại. S lấy 01 khúc cây, H lấy 01 cái rựa dài 90cm, lưỡi ằng kim loại dài 30cm ở nhà S chạy ra thì nhóm thanh niên ở huyện S Hòa điều khiển xe ỏ chạy. S rủ H, D đi tìm nhóm thanh niên ở huyện S Hòa đánh lại thì H, D đồng ý. D điều khiển xe mô tô iến số 78R1- 4497 chở H ngồi giữa cầm rựa, S cầm 01 ống tuýp kim loại dài 110cm, đường kính 2,1cm ngồi sau đi tìm nhóm thanh niên ở huyện S Hòa đánh. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước quán cà phê Gia K Hân thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện S thì gặp Lê Quốc K đang điều khiển xe mô tô đi đến theo hướng ngược chiều, xác đ nh K đi chung với nhóm thanh niên huyện S Hòa, H và S cùng ảo D điều khiển xe áp sát xe của K rồi H cầm rựa ằng 02 tay, S cầm tuýp kim loại ằng 02 tay gi lên cao chém, đánh vào đầu của K làm vỡ mũ ảo hiểm, vỡ lún sọ thái dư ng đỉnh trái, dập não xuất huyết, mảnh sọ cắm sâu vào mô não. Sau đó, D chở H, S ỏ chạy, K ngã xuống đường được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 133/TgT ngày 14/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Lê Quốc K thư ng tích tỉ lệ 47%, do vật có cạnh sắt tác động.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

1. Tuyên ố các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H, Trần Quốc D phạm tội “Giết người”.

Áp dụng các điểm , n khoản 1 Điều 123; Điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 584, Điều 586, Điều 590 và Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Xử phạt cáo Nguyễn Ngọc S 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

Xử phạt cáo Lê Minh H 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

Xử phạt cáo Trần Quốc D 07 ( ảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H, Trần Quốc D phải liên đới ồi thường thiệt hại cho người hại Lê Quốc K (Người đại diện hợp pháp của người hại được nhận thay) tổng số tiền: 226.477.965đ (Hai trăm hai mư i sáu triệu, ổn trăm ảy mư i ảy nghìn, chín trăm sáu mư i lăm đồng), mỗi cáo phải ồi thường số tiền: 75.493.000đ (Bảy mư i lăm triệu, ốn trăm chín mư i a nghìn đồng).

Các cáo Nguyễn Ngọc S và Lê Minh H mỗi cáo đã ồi thường 14.000.000đ (Mười ốn triệu đồng -Người hại đã nhận xong), nên cáo S, b cáo H, mỗi cáo còn phải tiếp tục phải ồi thường số tiền: 61.493.000đ (Sáu mư i mốt triệu, ốn trăm chỉn mư i a nghìn đồng).

B cáo Trần Quốc D đã ồi thường 2.000.000đ (Hai triệu đồng), theo iên lai thu số 0002504, ngày 17/5/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên, nên cáo D còn phải phải tiếp tục ồi thường số tiền: 73.493.000đ (Bảy mư i a triệu, ốn trăm chín mư i a nghìn đồng).

Trường hợp các cáo không có tài sản để ồi thường thì cha, mẹ các

cáo phải ồi thường cho người hại.

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 02/6/2022, hại Lê Quốc K; đại diện hợp pháp của hại K là ông Lê Hoài V, à Phạm Th Cà Mum và đại diện hợp pháp của cáo Lê Minh H là ông Lê Minh Sự kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo Lê Minh H.

Ngày 02/6/2022; đại diện hợp pháp của các cáo Nguyễn Ngọc S là ông Nguyễn Văn Hồng và luật sư ào chữa cho cáo Nguyễn Ngọc S là ông Nguyễn Thanh Mận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo Nguyễn Ngọc S và đề ngh xem xét về trách nhiệm dân sự đối với số tiền 85.000.000 đồng dự kiến là chi phí chưa phát sinh theo thực tế.

Ngày 03/6/2022; đại diện hợp pháp của các cáo Trần Quốc D là ông Trần Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo Trần Quốc D và đề ngh xem xét về trách nhiệm dân sự.

Ngày 20/6/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng an hành Quyết đ nh kháng ngh số 10/QĐ- VC2; đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm sửa ản án s thẩm và giảm hình phạt đối với b cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D theo quy đ nh tại Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 10/QĐ- VC2 ngày 20/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

+ Những người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo; các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D khai nhận hành vi phạm tội như ản án s thẩm đã quy kết.

+ Luật sư ào chưa cho các cáo đề ngh HĐXX cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình pạt cho các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D khai nhận do nhóm của hại Lê Quốc K (sinh ngày 02/9/2005) điều khiển xe mô tô nẹt pô xe, la ó, chửi ới và ném gạch, đá vào nhà trúng chân em gái của cáo S đã dẫn đến các cáo chuẩn hung khí nguy hiểm: 01 con rựa (dài 90 cm) và 01 tuýp sắt (110 cm X 2,1 cm) cùng nhau đi tìm đánh lại; quá trình đi tìm, các cáo phát hiện Lê Quốc K đang điều khiển xe mô tô đi đến theo hướng ngược chiều nên cáo D điều khiển xe áp sát xe của hại K; cáo H dùng rựa và cáo S dùng tuýp sắt chém, đánh vào đầu của hại K gây ra thư ng tích với tỉ lệ 47%.

Lời khai nhận của các cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D phù hợp với lời khai của người hại Lê Quốc K, phù hợp với lời khai của những người có liên quan và các nhân chứng: Nguyễn Anh R, Lê Anh T, Lê Thanh B và Bùi Vinh D; phù hợp với iên ản sự việc lập ngày 02/4/2021 và phù hợp với ản Kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 133/TgT ngày 14/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Lê Quốc K bị thương tích tỉ lệ 47%, do vật có cạnh sắt tác động. Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi của các b cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Minh H và Trần Quốc D đã phạm vào tội “Giết người” theo các điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự như Tòa án cấp s thẩm nhận đ nh là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

Xét Quyết đ nh kháng ngh và kháng cáo:

Về hình phạt:

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/4/2021: B cáo Nguyễn Ngọc S 15 tuổi 05 tháng 10 ngày và cáo Trần Quốc D 14 tuổi 07 tháng 23 ngày là những cáo dưới 16 tuổi khi phạm tội; cáo Lê Minh H 16 tuổi 01 tháng 16 ngày là dưới 18 tuổi khi phạm tội nên theo quy đ nh tại Điều 101 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D không quá 12 năm tù và cáo Lê Minh H không quá 18 năm tù. Đồng thời, trường hợp phạm tội của các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D và Lê Minh H thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy đ nh tại Điều 15 Bộ luật Hình sự nên theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D không quá 04 năm tù và cáo Lê Minh H không quá 09 năm tù. Tuy nhiên, Tòa án cấp s thẩm quyết đ nh xử phạt cáo Nguyễn Ngọc S 09 năm tù, Trần Quốc D 07 năm tù, cáo Lê Minh H 11 năm tù là không đúng quy đ nh của pháp luật.

Trong vụ án này, b cáo Nguyễn Ngọc S là người khởi xướng và b cáo Nguyễn Ngọc S cùng b cáo Lê Minh H trực tiếp gây ra hậu quả; b cáo Trần Quốc D giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực nên b cáo Nguyễn Ngọc S, b cáo Lê Minh H phải có mức hình phạt cao h n b cáo Trần Quốc D như Tòa án cấp s thẩm nhận đ nh là có căn cứ.

Các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D và Lê Minh H trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử; các cáo khai áo thành khẩn, tác động gia đình tự nguyện ồi thường thiệt hại cho người hại (tại Tòa án cấp phúc thẩm gia đình bị cáo Lê Minh H tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng), thể hiện sự ăn năn hối cải và được hại xin giảm nhẹ hình phạt là có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ cho các cáo khi quyết đ nh hình phạt.

Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và chấp nhận kháng cáo của b hại, đại diện hợp pháp của b hại, đại diện hợp pháp của các cáo và luật sư ào chữa cho b cáo Nguyễn Ngọc S; giảm nhẹ hình phạt đối với các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D và Lê Minh H.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của b hại K là ông Lê Hoài V yêu cầu bồi thường thiệt hại về các chi phí thuê xe, chi phí điều tr , bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, mất thu nhập và tổn thất tinh thần là các chi phí hợp lý và có chứng từ hợp lệ nên Tòa án cấp s thẩm chấp nhận các yêu cầu này là đúng quy đ nh tại các Điều 584 và Điều 590 Bộ luật dân sự. Riêng đối với khoản tiền dự kiến, chưa phát sinh về ghép sọ não cho hại Lê Quốc K đã được các cáo và đại diện hợp pháp của các cáo đồng ý ồi thường; đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đư ng sự nên Tòa án cấp s thẩm công nhận và quyết đ nh bồi thường là phù hợp. Vì vậy, kháng cáo yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự không thể chấp nhận.

Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên cấp phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu xem xét lại về trách nhiệm dân sự của đại diện hợp pháp và luật sư ào chữa cho b cáo Nguyễn Ngọc S và đại diện hợp pháp cho b cáo Trần Quốc D.

Chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 10/QĐ- VC2 ngày 20/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hại và đại diện hợp pháp của hại Lê Quốc K; đại diện hợp pháp của cáo Lê Minh H; đại diện hợp pháp và luật sư ào chữa của cáo Nguyễn Ngọc S; đại diện hợp pháp của cáo Trần Quốc D. Sửa ản án s thẩm:

1/ Áp dụng: Điểm , n khoản 1 Điều 123; Điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 91; Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt:

- B cáo Nguyễn Ngọc S 03 (ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

- B cáo Lê Minh H 07 ( ảy) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

- B cáo Trần Quốc D 02 (hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo tạm giam, ngày 29/10/2021.

2/ Áp dụng: Điều 584, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D và Lê Minh H liên đới ồi thường thiệt hại cho người hại Lê Quốc K (Người đại diện hợp pháp của người bị hại được nhận thay) tổng số tiền: 226.477.965đ (Hai trăm hai mươi sáu triệu, bốn trăm bảy mươi bảy nghìn, chín trăm sáu mươi lăm đồng); chia phần: Mỗi cáo phải ồi thường số tiền: 75.493.000đ (Bảy mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Các cáo Nguyễn Ngọc S và Lê Minh H mỗi cáo đã ồi thường được 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng -Người bị hại đã nhận xong) nên cáo S và cáo H, mỗi cáo còn phải tiếp tục phải ồi thường số tiền: 61.493.000đ (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).

B cáo Trần Quốc D đã ồi thường 2.000.000đ (theo biên lai thu số 0002504, ngày 17/5/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên) nên cáo D còn phải phải tiếp tục ồi thường số tiền: 73.493.000đ (Bảy mươi ba triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Trường hợp các cáo không có tài sản để ồi thường thì cha, mẹ các

cáo phải ồi thường cho người hại.

3/ Các phần quyết đ nh khác của ản án s thẩm về lãi chậm thi hành án, về xử lý vật chứng, về án phí s thẩm và quyền nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

4. Về án phí: Các cáo và đại diện hợp pháp của các cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Quốc D và Lê Minh H không phải ch u án phí phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ