vanban.org

Bản án 310/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh là vợ chồng.

Về con chung: Bà Đỗ Thị Thúy Nh được nuôi dạy 02 (hai) cháu Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi các con chung. Bà Đỗ Thị Thúy Nh cùng các thành viên gia đình (nếu có) không đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ - Nh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 310/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24/7/2019
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Đức;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Nguyễn Bảo Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 175/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975; nơi cư trú: số 43, tổ 10, ấp MC, xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG.

2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thúy Nh, sinh năm 1984; nơi cư trú: số 469, tổ 9, ấp TH A1, xã TA, thị xã TC, tỉnh AG.

Ông Nguyễn Văn Đ, có mặt; Bà Đỗ Thị Thúy Nh vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải về con chung trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Khoảng năm 2006, ông Đ và bà Nh tự tìm hiểu, yêu thương nhau và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, không đăng kết hôn. Sau lễ cưới, ông Đ và bà Nh đi làm ở thành phố HCM, cuộc sống chung hạnh phúc. Năm 2017, phát sinh ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, thường xuyên cãi nhau và sống xa nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay. Cuộc sống chung không còn hòa hợp, tình cảm không thể hàn gắn nên ông Đ yêu cầu ly hôn với bà Nh.

Về con chung: Trong thời kỳ chung sống, ông Đ và bà Nh có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014. Ông Đ đồng ý giao 02 con chung cho bà Nh nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi nhận lời khai, biên bản hòa giải về con chung trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đỗ Thị Thúy Nh trình bày: Thống nhất về thời gian và điều kiện đi đến chung sống như ông Đ trình bày. Sau khi tổ chức lễ cưới, bà Nh và ông Đ đi làm ở thành phố HCM và chung sống hạnh phúc. Năm 2017, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, thường xuyên cãi nhau và sống xa nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay. Cuộc sống chung không còn hòa hợp, tình cảm không thể hàn gắn nên bà Nh đồng ý ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Trong thời kỳ chung sống, bà Nh và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014. Bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải về con chung; không hòa giải về tình cảm do ông Đ và bà Nh không đăng ký kết hôn.

- Tại phiên tòa, ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Hội đồng xét xử, công bố lời khai ngày 28/5/2019 của cháu Nguyễn Thị Thanh Tr; cháu có nguyện vọng được sống chung với bà Nh (mẹ) vì bà Nh đã lo cho cháu ăn học, cuộc sống ổn định.

Biên bản xác minh ngày 28/5/2019, ông Đỗ Văn Đ, (ba ruột bà Đỗ Thị Thúy Nh) khai: Năm 2006, Đ và Nh tự tìm hiểu yêu thương và chung sống, không đăng ký kết hôn. Năm 2017, Đ và Nh phát sinh mâu thuẫn và sống xa nhau cho đến nay. Tại thời điểm xác minh Nh đang đi làm ở Thành phố HCM nhưng vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp TH A1, xã TA, thị xã TC, tỉnh AG. Thời gian chung sống Đ và Nh có 02 con chung như Đ và Nh trình bày.

Biên bản xác minh về tình trạng cư trú của bà Nh tại Công an xã Tân An: bà Nh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp TH A1, xã TA, thị xã TC, tỉnh AG chung với hộ ông Đỗ Văn Đ, chị Nh làm việc ở Thành phố HCM và thường về nhà vào những ngày lễ, tết trong năm.

Xác nhận ngày 25/4/2019 của Ủy ban nhân dân xã TA, thị xã TC: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975 và Đỗ Thị Thúy Nh, sinh năm 1984 có chung sống với nhau như vợ chồng và có 02 (hai) con chung, nhưng không đăng ký kết hôn.

Đồng thời, công bố kết quả xác minh ngày 04/6/2019 của Uỷ ban nhân dân xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG về việc ông Đ và bà Nh không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại các Điều 195, Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nh có đơn xin xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ông Đ và bà Nh chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006, không đăng ký kết hôn. Năm 2017, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Quá trình chung sống ông Đ và bà Nh không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Về con chung: cháu Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014. Cháu Thanh Tr có nguyện vọng được sống với mẹ; bà Nh có yêu cầu được nuôi dạy 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng; ông Đ đồng ý giao hai con chung cho bà Nh nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh là vợ chồng.

Về con chung: Bà Nh được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014; ông Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị Thúy Nh. Bà Nh có nơi cư trú: số 469, tổ 9, ấp TH A1, xã TA, thị xã TC, tỉnh AG. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Đỗ Thị Thúy Nh có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Khoảng năm 2006, ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh tự tìm hiểu, yêu thương nhau và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, không đăng kết hôn. Sau lễ cưới, ông Đ và bà Nh đi làm ở thành phố HCM và chung sống hạnh phúc. Năm 2017, phát sinh ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, thường xuyên cãi nhau và sống xa nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay. Ông Đ yêu cầu ly hôn với bà Nh và bà Nh đồng ý ly hôn với ông Đ.

Theo xác nhận ngày 25/4/2019 của Ủy ban nhân dân xã TA, thị xã TC: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975 và Đỗ Thị Thúy Nh, sinh năm 1984 có chung sống với nhau như vợ chồng và có 02 (hai) con chung nhưng không đăng ký kết hôn.

Kết quả xác minh ngày 04/6/2019 của Uỷ ban nhân dân xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG về việc ông Đ và bà Nh không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.

Ông Đ và bà Nh chung sống với nhau có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Xét, không công nhận ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, biên bản ghi nhận lời khai bị đơn, biên bản hòa giải về con chung ông Đ và bà Nh đồng thống nhất khai có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014. Ông Đ đồng ý giao 02 con chung cho bà Nh được tiếp tục nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi các con chung. Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 28/5/2019 của cháu Nguyễn Thị Thanh Tr; cháu có nguyện vọng được sống chung với bà Nh (mẹ) vì mẹ đã lo cho cháu ăn học, cuộc sống ổn định. Ông Đ đồng ý giao 02 con chung cho bà Nh nuôi dạy là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.

Bà Đỗ Thị Thúy Nh được nuôi dạy 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nh cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn Đ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi các con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung, ông Đ và bà Nh đồng thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp. Bà Nh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị Thúy Nh là vợ chồng.

Về con chung: Bà Đỗ Thị Thúy Nh được nuôi dạy 02 (hai) cháu Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 2007 và Nguyễn Bảo L, sinh năm 2014 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

Bà Đỗ Thị Thúy Nh cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn Đ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi các con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0001834 ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu; Ông Đ đã nộp đủ án phí.

Bà Đỗ Thị Thúy Nh không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nh là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ