- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc M phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc M (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 310/2018/HS-ST Ngày: 21-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Hộ i thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chính
Ông Đỗ Xuân Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mười Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 303/2018/TLST - HS, ngày 30 tháng 10 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Ngọc M (C) - Sinh ngày 06 tháng 11 năm 1991, tại: Đắk Lắk;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường N, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Bá D và bà: Nguyễn Thị C; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị Mỹ T và có 01 con, sinh năm: 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/02/2009, bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm, xử phạt 01 năm tù, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số 179/2009/HSPT), ngày 16/4/2010 chấp hành xong về địa phương sinh sống.
Bị cáo hiện đang tại ngoại - Có mặt.
- Người bị hại: Nguyễn Văn H – Sinh năm: 1996 (Có mặt)
Cư trú tại: đường Y, phườ ng E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
- Người giám hộ cho bị cáo: Ông Đặng Bá D , Sinh năm: 1967 (Cha đẻ bị cáo Đặng Ngọc M) – Có mặt.
Cư trú tại: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ngườ i bà o chữ a cho bị cá o : Có Luật sư Nguyễn Thị Bích Hằng – Văn phòng Luật sư THT thuộ c Đoà n luậ t sư tỉ nh Đăk Lăk.
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
1/Ông Ngô Hoàng L
- Sinh năm: 1992 (Vắng mặt)
Cư trú tại: đường Phạm V, phườ ng T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
2/ Bà Nguyễn Thị C
- Sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
Cư trú tạ i: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Ngọc M là người bị rối loạn tâm thần đã đi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng 19h20’ ngày 22/04/2018, Đặng Ngọc M vì buồn chán chuyện gia đình, nên nghĩ ra việc dùng dao chém người khác gây thương tích để được đi tù. M vào trong bếp của gia đình mình lấy một con dao không có cán, bản dẹt, đầu bằng dài 26cm, một cạnh sắc, rồi đi vào phía đường N, phường T, thành phố B nhặt được một đoạn ống tuýp bằng kim loại màu trắng, đường kính 03cm, rỗng ruột, chiều dài 01m, sau đó M mang ra trước hiên nhà và gắn con dao vào một đầu cây tuýp tạo thành một cây dao dài 1,15m. M cầm cây dao ra ngã ba đầu hẻm đường N, phường T, thành phố B và đứng phía lề đường bên phải hướng từ km5 về km3 để chờ có người qua đường thì sẽ chém. Đến khoảng 20h20’ cùng ngày, khi thấy anh Nguyễn Văn H sinh năm 1996, trú tại: đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường N hướng từ km5 về km3 thì Đặng Ngọc M đứng chặn đường rồi vung dao chém ngang về phía anh H trúng vào bàn tay phải của anh H gây thương tích. Sau khi bị chém, anh H vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy về đến khu vực gần chợ T, thành phố B, rồi gọi người nhà đưa lên Bệnh viện Thiện Hạnh để điều trị thương tích. Đến khoảng 21h15’ cùng ngày, khi thấy anh Ngô Hoàng L, sinh năm 1992, trú tại: đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường N cũng từ hướng Km5 về Km3 thì M cầm dao ra giữa đường vung dao chém về phía anh L. Anh L lách tay lái để tránh thì mất thăng bằng nên ngã xuống đường và bị thương tích nhẹ. Còn chiếc xe mô tô của anh L bị bể dàn nhựa đầu xe. Sau khi chém anh L không trúng, bị cáo M cầm dao chạy vào trong hẻm đường N rồi về nhà mình.
Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 535/PY-TgT, ngày 23/4/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: anh Nguyễn Văn H bị vết thương bốn ngón tay 2, 3, 4 và 5 bàn tay phải, gãy xương và đứt gân, tỷ lệ thương tích 19%. Vật tác động: Sắc bén.
Tại bản Kết luận pháp y bổ sung số 1103/PY-TgT, ngày 24/9/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: anh Nguyễn Văn H bị vết thương bàn tay phải, hàn khớp liên đốt và biến dạng ngón 2, 3, 4, 5, tỷ lệ thương tích 21%. Vật tác động: Sắc bén.
Tại bản Kết luận pháp y tâm thần số 54/KLGĐTC, ngày 03/7/2018 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Tây Nguyên. Kết luận đối tượng Đặng Ngọc M:
Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/4/2018, Đặng Ngọc M bị bệnh: Loạn thần không thực tổn, không biệt định
Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/4/2018, Đặng Ngọc M bị: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số: 304/CT-VKSTP.BMT ngày 29/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Buôn Ma Thuột , tỉnh Đăk Lăk đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc M về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Ngọc M và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 304/CT-VKSTP.BMT ngày 29/10/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc M từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điề u 46 Bộ luật hình sự ; Điều 586, Điều 590 Bộ luậ t dân sự .
Anh Nguyễn Văn H chỉ yêu cầu bị cáo Đặng Ngọc M và gia đình phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, trong tổng số tiền chi phí điều trị là 14.775.646 đồng mà anh đã cung cấp hóa đơn, chứng từ cho Cơ quan điều tra. Bà Nguyễn Thị C là mẹ của bị cáo Đặng Ngọc M đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 3.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo Đặng Ngọc M và gia đình phải tiếp tục bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Buộc bị cáo Đặng Ngọc M phải bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Văn H số tiền 5.000.000 đồng
Tịch thu tiêu hủy 01con dao có đặc điểm dài 115cm, gồm: 01 con dao dài 26cm, có màu nâu, bị gỉ, được gắn vào 01 cây kim loại dài 01m có màu trắng, đã bị gỉ, là hung khí mà bị cáo Đặng Ngọc M sử dụng để chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H.
Luậ t sư bào chữ a cho bị cá o Đặng Ngọc M: Về cơ bả n nhấ t trí vớ i tộ i danh và Điề u luậ t Việ n kiể m sá t đã truy tố đố i vớ i bị cá o
. Tuy nhiên Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo là quá cao vì bị cáo là người có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi phạ m tộ i bị cá o đã tá c độ ng gia đì nh bồ i thườ ng một phần thiệ t hạ i cho ngườ i bị hạ i . Bị cáo là người bị bệnh loạn thần không thực tổn, không biệt định, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Do đó dễ bị xú c độ ng nên mớ i xả y ra hà nh vi phạ m tộ i, đề nghị Hội đồng xét xử , xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo được tiếp tục chữa bệnh và sớm hòa nhập với cộng đồng.
Lời khai của bị hại anh Nguyễn Văn H: Giữa bị hại và bị cáo không có quen biết và mâu thuẫn gì với nhau. Sau khi bị gây thương tích bị hại đã chi phí điều trị hết tổng số tiền là 14.775.646 đồng nhưng thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo quá khó khăn nên bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường một nữa tiền chi phí điều trị, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000đồng. Nay bị hại yêu cầu bị cáo và gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000đồng ngoài ra bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm (dao) và thể hiện bản chất côn đồ được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là một trong những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Ngoài ra bị cáo còn gây hậu quả làm tổn hại 21% sức khỏe cho anh Nguyễn Văn H, bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Đặng Ngọc M phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luậ t hì nh sự .
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm …;
i) Có tính chất côn đồ...;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nguy hiểm và gây tác hại xấu nhiều mặt cho xã hội. Do buồn chuyện gia đình nên vào tối ngày 22/4/2018, ngay tại ngã ba đầu hẻm đường N, phường T, thành phố B, bị cáo Đặng Ngọc M đã cầm 01 con dao dài 115cm chém 1 nhát vào bàn tay phải của anh Nguyễn Văn H, hậu quả anh Nguyễn Văn H bị thương tích 21% sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã cố ý gây thương tích cho bị hại thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân lương thiện.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điề u tra cũ ng như tạ i phiên tò a bị cá o đã thậ t thà khai bá o . Sau khi phạ m tộ i, bị cáo đã tá c độ ng gia đì nh bồ i thườ ng một phần thiệ t hạ i cho ngườ i bị hại. Bị cáo là người bị bệnh loạn thần không thực tổn, không biệt định, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi (theo kết luận giám định Pháp y tâm thần số 54/KLGĐTC, ngày 03/7/2018 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Tây Nguyên). Đây là tì nh tiế t giả m nhẹ hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i cá c điể m b, q, s khoản 1 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự nên cầ n á p dụ ng để giả m nhẹ hì n h phạ t cho bị cá o , bị cáo phạm tội vớ i nhiề u tì nh tiế t giả m nhẹ nên đượ c á p dụ ng thêm khoản 1 Điề u 54 Bộ luậ t hình sự.
Về tình tiết tăng nặng; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Ngoài chém anh Nguyễn Văn H bị cáo còn có hành vi dùng dùng dao chém anh Ngô Hoàng L khi anh L đang điều khiển xe mô tô nhưng anh L lách tay lái để tránh thì mất thăng bằng nên ngã xuống đường, anh L chỉ bị trầy xước nhẹ ở tay, chân, anh L đã từ chối giám định thương tích không yêu cầu gì, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý, là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Xét bị cáo Đặng Ngọc M là người hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, do vậy nếu không có tài sản để bồi thường thì người giám hộ của bị cáo phải bồi thường thay theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật dân sự.
Tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo và người giám hộ cho bị cáo bồi thường ½ chi phí điều trị (Trong tổng số tiền chi phí điều trị 14.775.646 đồng) là 8.000.000đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh H 3.000.000đồng. Nay anh H yêu cầu bị cáo và người giám hộ cho bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh H số tiền 5.000.000đồng. Xét yêu cầu bồi thường của bị hại là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị cáo và người giám hộ cho bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền chi phí điều trị 5.000.000đồng.
Anh Ngô Hoàng L bị Đặng Ngọc M đã dùng dao chém, anh bị ngã xuống đường, anh L chỉ bị trầy xước nhẹ ở tay, chân và bị bể dàn nhựa đầu xe mô tô, gia đình bị cáo M đã bồi thường tiền chi phí sửa chữa xe cho anh L, anh L đã từ chối giám định thương tích không yêu cầu bị cáo M và gia đình phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để giải quyết.
Về vật chứng: Đối với 01 con dao bị cáo Đặng Ngọc M sử dụng gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H nên cần tịch thu tiêu hủy.
Xét quá trình điều tra, truy tố. Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, tiến hành truy tìm, thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo, người giám hộ cho bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc M (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc M (C) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự, khoản 3 Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Đặng Ngọc M tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền là 5.000.000đồng, ông Đặng Bá D, bà Nguyễn Thị C là bố mẹ đẻ là người giám hộ cho bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Văn H thay cho bị cáo.
Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự để tính lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ Luật hình sự; điểm c khoản 2, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 26cm, có màu nâu, bị gỉ, được gắn vào 01 cây kim loại dài 01m có màu trắng.
(Vật chứng có đặc điểm, số lượng như biên giao nhận vật chứng ngày 29/10/2018 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đặng Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người giám hộ cho bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành , tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự . Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận : - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh,VKSND TP.BMT; - Công an TP.BMT; - CCTHADS TP.B; - THA phạt tù (để thi hành); - Sở tư pháp tỉnh ĐăkLăk; - Bị cáo; Các đương sự - Lưu: HS, VP . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị My My |