- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Ngọc S kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Kim L.
- Căn cứ chính? Điều 34 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 310/2017/HC-PT Ngày: 12-10-2017 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Mười
Ông Trần Xuân Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 10 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp) xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 205/2017/TLPT-HC ngày 20 tháng 7
năm 2017 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 584/2017/QĐPT-HC
ngày 22 tháng 9 năm 2017; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Ngọc S
Bà Nguyễn Thị Kim L
Cùng địa chỉ cư trú: 34 ĐBP, phường MP, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim L: Ông Nguyễn Ngọc S;
địa chỉ cư trú: 34 ĐBP, phường MP, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp (v
14/3/2017 - có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
Ông Trần Đăng M, là Luật sư của Văn phòng Luật sư TĐ, thuộc Đoàn luật
sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bị kiện:
1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
: Ông Châu Hồng Ph; Chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp (v
-
06/9/2016 - có đơn xin vắng mặt).
: Ông Nguyễn Trung Ng; địa chỉ cư : 65 PNL
1,
(có mặt).
2/
ban nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp
: Ông
; chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố CL (v
-19/8/2016 – có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Người khởi kiện: Ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn
Thị Kim L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc S cho bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Gia đình ông, bà có diện tích 683,1m2 đất thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 8,
được UBND thành phố CL cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2008. Phần đất này nằm trong dự án xây dựng Trung tâm hoạt động thanh thiếu niên tỉnh Đồng Tháp. Ngày 02/6/2011, UBND thành phố CL ban hành Quyết định số 158/QĐ.UBND về việc thu hồi đất diện tích 683,1m2 và đã tiến hành bồi thường ông S, bà L đã nhận tổng cộng 1.810.782.161 đồng, qua 4 lần như sau: lần 1:
379/QĐ-
10/8/2011; lần 2: 25.723.203 đồng theo Quyết định số 119/QĐ-HĐBTHT&TĐC ngày 17/7/2012; lần 3: 242.638.666 đồng theo Quyết định số 158/QĐ-HĐBTHT&TĐC Ngày 20/3/2014; lần 4: 46.742.400 đồng theo Quyết định số 537/QĐ-HĐBTHT&TĐC ngày 02/12/2015.
Không đồng ý với việc bồi thường, ông S, bà L khiếu nại thì ngày
17/10/2013,
ban hành
73/QĐ-UBND.HC, có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông, bà.
Ông S, bà L
Đồng Tháp.
Tại Biên bản đối thoại số 57/BB.UBND ngày 20/8/2015 của UBND tỉnh
Đồng Tháp đã thống nhất hai nội dung: hỗ trợ 50% giá trị đất ở trung bình tính theo giá đất ở của tuyến đường ĐBP
; nâng giá bồi thường nhà 01 trệt, 01 lầu từ 2.811.000 đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2; giao UBND thành phố CL xác lập thủ tục bổ sung cho hộ ông S theo nội dung nêu trên.
Đến ngày 21/8/2015 UBND t
Đồng Tháp
125/UBND-TCD do ông Châu Hồng Ph
bản nên tại biên bản đối thoại số 57/BB.UBND ngày 20/8/2015 có ghi nâng giá
bồi thường nhà 01 trệt, 01 lầu từ 2.811.000 đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2
/m2.
Theo ông, bà thì giá đất đường ĐBP
TĐT
3.500.000 đồng/m2, nhưng theo giá trị trường là 6.000.000 đồng/m2
nếu tính theo biên bản đối thoại giải quyết hỗ trợ 50% giá đất là phù hợp.
19/9/2016 ông S, bà L
73/QĐ-
thành phố CL
281/QĐ-
. Yêu cầu
UBND
ch
:
3.500.000 đồng/m2 = 1.750.000 đồng/m2
700,2m2 x 1.750.000
đồng/m2
; nâng mức
2.811.000
đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2
228,32m2 x
1.689.000 đồng
.
Ông Đặng Văn N
ch UBND thành phố
CL trình bày:
UBND thành phố CL thực hiện
thanh thiếu niên Đồng Tháp, đã ban hành các quyết định về thu hồi đất và bồi
thường đúng theo quy định. Ông S, bà L không đồng ý với giá bồi thường của
Nhà nước mà yêu cầu bồi thường theo giá thị trường, được giải quyết theo
Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND thành
phố CL, trong quá trình đối thoại ông S, bà L
còn lại yêu cầu nâng giá bồi thường đất và nhà.
Việc ông S và bà L yêu cầu hủy một phần Quyết định số 73/QĐ-
UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND thành phố CL, tỉnh Đồng
Tháp về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Ngọc S
thành phố CL
ông S,
. UBND
537/QĐ-
HĐBTHT&TĐC ngày 02/12/2015 của Hội đồng bồi thường về việc bồi thường,
hỗ trợ (bổ sung lần 3)
18/QĐ-UBND.HC
ngày 04/7/2014 của Chủ tịch UBND thành phố CL
2.811.000 đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2
ông S
thành phố CL
đề nghị Tòa án tỉnh bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S
, giữ
nguyên Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Châu Hồng Ph, đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp trình bày:
Việc ông S
281/QĐ-UBND ng
, UBND thành phố CL và UBND tỉnh theo giá qui định của Nhà nước, thực hiện tất cả các chế độ chính sách và phương án có lợi nhất cho ông S, nên không đồng ý theo yêu cầu của ông S, L. Chủ tịch UBND tỉnh sẽ thực hiện theo quyết
57/BB.UBND ngày 20/8/2015 của UBND t
ông S,
.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tuyên xử:
Tụng hành chính; năm 2003,
2013;
Căn cứ khoản 2, 3 Điều 34 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày
27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Long về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
và yêu cầu hủy Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về
sơ thẩm,
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22 tháng 6 năm 2017, ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Kim L
nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo và giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tỉnh Đồng Tháp cho rằng Công văn số 125/UBND-TCD ngày 21/8/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp chỉ đính chính một nội dung của
57/BB.UBND ngày 20/8/2015, đó là không đồng ý nâng giá hỗ trợ
nhà từ 2.811.000 đồng lên 4.500.000 đồng/m2, riêng các nội dung khác của
57/BB.UBND vẫn giữ nguyên. Đề nghị cấp phúc thẩm giữ
nguyên bản án sơ thẩm. Chủ tịch UBND thành phố CL vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện phát biểu ý
kiến như sau: Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
ban hành nhưng không được đối thoại.
57/BB.UBND ngày 20/8/2015 hoàn toàn phù hợp với diễn biến buổi đối
thoại, thể hiện ý chí của các bên tham gia đối thoại. Cụ thể UBND tỉnh xét thấy
trường hợp của gia đình ông S là đặc biệt, ông S có mẹ ruột được truy tặng danh
hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, có chú ruột là Liệt sỹ nên đã thống nhất nâng
giá bồi thường, hỗ trợ. Công văn đính chính số 125/UBND-TCD ngày
21/8/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp vi phạm quy định tại Điều 7 của
Nghị định số 09/2010-NĐ-CP ngày 08/02/2010, sửa đổi bổ sung Nghị định số
110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư nên không
phát sinh hiệu lực. Do Công văn đính chính số 125/UBND-TCD ngày 21/8/2015
không có giá trị pháp lý nên
57/BB.UBND ngày
20/8/2015 phải được áp dụng làm căn cứ để ban hành quyết định giải quyết
khiếu nại của ông S. Trên thực tế, Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ ngày
14/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp được ban hành đã không căn cứ
vào biên bản đối thoại. Do đó, quyết định này đã vi phạm quy định tại khoản 5
Điều 30 của Luật Khiếu nại năm 2011. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của ông S. Tuyên hủy một phần Quyết định số 73/QĐ-
UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
, hủy toàn bộ
Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh
Đồng Tháp và buộc UBND tỉnh Đồng Tháp phải giải quyết bồi thường, hỗ trợ
cho ông S theo đúng
57/BB.UBND ngày 20/8/2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC
ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
và Quyết định số 281/QĐ-
UBND-NĐ ngày 14/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp được ban hành
đúng thẩm quyền, hình thức, nội dung theo quy định của pháp luật và đã có xem
xét đến hoàn cảnh gia đình ông S, bà L. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của ông S và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Kim L là người có quyền sử
dụng đất bị thu hồi, có công trình kiến trúc bị ảnh hưởng khi Nhà nước thực
tỉnh Đồng Tháp. Do
không đồng ý với giá bồi thường, hỗ trợ nên ông S, bà L khiếu nại và Chủ tịch
UBND thành phố CL đã ban hành Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày
17/10/2013 (gọi tắt là Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC) có nội dung bác khiếu
nại của ông S, bà L. Xét thấy, trong quá trình giải quyết khiếu nại của ông S và
bà L, UBND thành phố CL đã không tổ chức đối thoại với người khiếu nại nên
nội dung của Quyết số 73/QĐ-UBND.HC đã không thể hiện kết quả đối thoại.
Do đó, việc ban hành quyết định này là vi phạm các quy định tại Điều 30, điểm
đ khoản 2 Điều 31 của Luật Khiếu nại năm 2011. Lẽ ra, cần phải hủy toàn bộ
Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC, nhưng do ông S chỉ yêu cầu hủy một phần
của quyết định nêu trên về việc giải quyết nâng giá bồi thường đất, nâng giá bồi
thường nhà. Do đó, kháng cáo của ông S về việc hủy một phần Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC của Chủ tịch UBND thành phố CL là có căn cứ để chấp nhận.
Ông S và bà L tiếp tục khiếu nại Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC, tại
Biên bản đối thoại
57/BB.UBND ngày 20/8/2015 (gọi tắt là Biên bản đối thoại số 57/BB.UBND), UBND tỉnh Đồng Tháp đã thống nhất các nội dung: hỗ trợ 50% giá trị đất ở trung bình tính theo giá đất ở của tuyến đường ĐBP cho hộ ông S; nâng giá bồi thường nhà 01 trệt, 01 lầu từ 2.811.000 đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2; giao UBND thành phố CL xác lập thủ tục bổ sung cho hộ ông S theo nội dung nêu trên. Tuy nhiên, ngày 21/8/2015 UBND t
Đồng Tháp ban hành Công văn số 125/UBND-TCD (gọi tắt là Công văn số 125/UBND-TCD) đính chính nội dung đã thỏa thuận tại Biên bản đối thoại số 57/BB.UBND và ngày 14/9/2015 Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ (gọi tắt là Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ) có nội dung giữ nguyên Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC.
Xét thấy, để giải quyết khiếu nại của ông S đối với Quyết định số 73/QĐ-
UBND.HC của Chủ tịch UBND thành phố CL, UBND tỉnh Đồng Tháp đã tiến hành đối thoại với người khiếu nại và ban hành Biên bản đối thoại số 75/BB-UBND là đúng với quy định tại Điều 39 của Luật Khiếu nại năm 2011. Tại nội dung biên bản đối thoại nêu trên đã thể hiện chủ trương của UBND tỉnh là: hỗ trợ 50% giá trị đất ở trung bình tính theo giá đất ở của tuyến đường ĐBP cho hộ ông S; nâng giá bồi thường nhà 01 trệt, 01 lầu từ 2.811.000 đồng/m2 lên 4.500.000 đồng/m2; giao UBND thành phố CL xác lập thủ tục bổ sung cho hộ ông S theo nội dung nêu trên. Biên bản đối thoại này được lập đúng trình tự quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, đã thể hiện ý kiến, ý chí của tất cả thành viên tham gia buổi đối thoại, là kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phù hợp với chính sách của Nhà nước đối với gia đình người có công cách mạng. Tuy nhiên, việc UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Công văn số 125/UBND-TCD, về việc đính chính nội dung biên bản đối thoại ngày 20/8/2015 là trái với quy định của pháp luật và không có giá trị pháp lý. Bởi vì, theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010, về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư, thì “Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về nội dung phải được sửa đổi, thay thế bằng văn bản có hình thức tương đương của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành phải được đính chính bằng văn bản hành chính của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản”. Việc UBND tỉnh Đồng Tháp cho rằng Biên bản đối thoại số 75/BB-UBND có sai sót trong khâu soạn thảo là không có căn cứ để chấp nhận. Mặt khác, khi có thay đổi về nội dung của biên bản đối thoại, UBND tỉnh Đồng Tháp đã không giao Công văn số 125/UBND-TCD cho ông S mà ông S chỉ nhận được vào ngày cưỡng chế thu hồi nhà, đất (tức ngày 30/5/2016). Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho UBND tỉnh Đồng Tháp cũng thừa nhận rằng Công văn số 125/UBND-TCD chỉ đính chính duy nhất một nội dung của Biên bản đối thoại số 75/BB-UBND, đó là không đồng ý nâng giá hỗ trợ nhà, còn các nội dung khác vẫn giữ nguyên. Nếu UBND tỉnh
Đồng Tháp cho rằng Công văn số 125/UBND-TCD là đúng quy định của pháp
luật, thì Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ phải công nhận việc nâng giá đất
cho gia đình ông S. Trên thực tế, Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ đã phủ
nhận toàn bộ biên bản đối thoại, giữ nguyên Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC.
Do Công văn số 125/UBND-TCD không có giá trị pháp lý và Quyết định số
281/QĐ-UBND-NĐ được ban hành không căn cứ vào Biên bản đối thoại số
75/BB-UBND nên quyết định này đã vi phạm quy định tại điểm e khoản 2 Điều
40 của Luật Khiếu nại năm 2011. Do đó, kháng cáo của ông S về việc yêu cầu
hủy quyết định này là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu
khởi kiện của ông S, bà L là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng
đến quyền lợi của ông S, bà L. Cần sửa bản án sơ thẩm.
Do sửa bản án sơ thẩm nên ông S, bà L không phải chịu án phí hành chính
phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính năm
2015.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Kim L.
Sửa bản án hành chính sơ thẩm số 04/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Tố tụng Hành chính
năm 2015;
2013;
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12
ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu
.
Hủy phần giải quyết nâng giá bồi thường đất, nâng giá bồi thường nhà của
Quyết định số 73/QĐ-UBND.HC ngày 17/10/2013 của Chủ tịch UBND
, tỉnh Đồng Tháp về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Ngọc S,
bà Nguyễn Thị Kim L.
Hủy Quyết định số 281/QĐ-UBND-NĐ ngày 14/9/2015 của Chủ tịch
UBND tỉnh Đồng Tháp, về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Ngọc S,
bà Nguyễn Thị Kim L.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:
Chủ tịch UBND thành phố CL và Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, mỗi
người phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn
à
200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm theo biên lai thu 32525 ngày 20/7/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Nguyễn
à
300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm theo biên lai thu 6746 ngày 17/7/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp; - NKK (2); - NBK (2); - Lưu (3) 15b (Án18). | Võ Văn Khoa |