vanban.org

Bản án 31 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày16/9/2010 cho chị Bùi Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Nguyễn Văn Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vân- Thức xin ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 31/20223/HNGĐ- ST
Ngày 18/8/2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mạnh Xuân Hải;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tuấn, ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: chị Bùi Thị Hồng V, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 4, khu Bình M, phường Cẩm B, thành phố Cẩm Ph, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2/ Bị đơn: anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Hương C, phường Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Hiện đang chấp hành án tại đội 7, phân trại số 3, trại giam Hoàng T, thành phố Chí L, tỉnh Hải Dương; vắng mặt, (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng V trình bày: Chị đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn Th vào ngày 18/7/2014 tại UBND xã Duy H, huyện Duy T (nay là UBND phường Duy H, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Th nghiện ma túy, không chịu làm ăn, không quan tâm chăm lo kinh tế gia đình, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không kết quả, dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã, ly thân từ khi anh Th phải chấp hành án phạt tù trong trại giam từ năm 2022 đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Th.

Quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 06/7/2023 bị đơn anh Nguyễn Văn Th cũng trình bày: Về điều kiện, thủ tục đăng ký kết hôn như chị V đã trình bày ở trên là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh cho rằng vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, và ly thân từ thời điểm anh phải đi chấp hành án phạt tù trong trại giam từ năm 2022 đến nay. Nay chị V đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th cùng trình bày vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 16/9/2010. Khi ly hôn chị V xin nuôi cháu T và chị không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Th cũng có quan điểm để chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng.

Về tài sản chung, công sức, công nợ của vợ chồng: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hồng V. Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th. Giao cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 16/9/2010 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng; anh Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn Th được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Bùi Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng V, bị đơn anh Nguyễn Văn Th. Tuy nhiên các đương sự đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2014 tại UBND xã Duy H, huyện Duy T (nay là UBND phường Duy H, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam.

Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm với nhau, từ đó dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2022 khi anh Th phải đi chấp hành án phạt tù. Nay chị V xin ly hôn thì anh Th cũng đồng ý. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh Th đã tồn tại trong một thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù giữ nguyên tình trạng sống ly thân như hiện nay của vợ chồng cũng không đem lại hạnh phúc. Vì vậy, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V đối với anh Th là phù hợp với các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị V và anh Th đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu: Nguyễn Anh T, sinh ngày 16/9/2010. Khi ly hôn chị V có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng. Anh Th cũng có quan điểm để chị V nuôi con chung của vợ chồng.

Xét về điều kiện thực tế, nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự, nhận thấy: Hiện tại anh Th đang phải chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, HĐXX cần giao cháu Nguyễn Anh T cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị V không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn: Do yêu cầu của nguyên đơn được HĐXX chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày16/9/2010 cho chị Bùi Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Nguyễn Văn Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị V và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Th trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng V phải nộp 300.000 đồng. Chị V được đối trừ số tiền tạm ứng án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam theo Biên lai số 0001966 ngày 27/6/2023.

Báo cho chị Bùi Thị Hồng V, anh Nguyễn Văn Th vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ