vanban.org

Bản án 31

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2021 (ngày tạm giữ). Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: đã được giải quyết và xử lý tại bản án s 04/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hoàng T cố ý gây thương tích - Bị truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 31/2021/HS-ST
Ngày: 29-9-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mƣời

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Phƣớc Long và bà Nguyễn Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố a Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 24/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 6năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử s 24/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 đ i với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Khóm A, Phường I, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ học vấn: Không biết chữ.

D n tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Qu c tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1966

Anh, chị, em: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1995

Vợ, con: Chưa có

Tiền sự, tiền án: Không

Nhân thân:

- Ngày 28/07/2010 bị Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 12/9/2011 thi hành xong phần án phí.

- Ngày 15/11/2012 bị Tòa án nh n d n huyện Ch u Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/4/2013 đã thi hành xong phần án phí.

- Ngày 24/09/2014 bị Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2015. Ngày 30/10/2015 đã thi hành xong phần án phí.

Tạm giữ: ngày 15/3/2021; tạm giam: ngày 24/3/2021

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1- Anh Nguyễn Hải D, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp B, xã Q, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp

2- Anh Phạm Hoài T1, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm O, Phường U, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp

3- Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm O, Phường U, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

4- Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp X, xã N, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp

5- Phan Thanh M1, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm O, Phường U, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp

- Người làm chứng:

1- Anh Hồ Ngọc T3, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp K, xã K, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

2- Anh Bùi Phú T4, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm B, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại ph n trại s 2 Trại giam Kênh 7 thuộc Bộ Công an.

3- Anh Trần Ngọc H1, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm Y, phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

4- Anh Lê Quản N1, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm B, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

5- Anh Nguyễn Quốc C1, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm E, phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

6- Anh Nguyễn Huỳnh Anh K1, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm Y, phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong vụ án gồm các nhóm sau:

- Nhóm của Nguyễn Hải D gồm: Nguyễn Hải D, Phạm Thiện H2, Phạm Hoài T1, Nguyễn Ngọc T2 , Nguyễn Văn P, Phan Thanh M1, Trần Ngọc H1, Lê Tiểu T5.

- Nhóm của Bùi Phú T4 gồm: Bùi Phú T4, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Qu c C1, Nguyễn Huỳnh Anh K1, Lê Quản N1, Lê Nguyễn Kiều M2.

- Nhóm của Nguyễn Duy T6 gồm: Nguyễn Duy T6, Nguyễn Duy K2, Bùi Thành T7, Trần Hữu N2, Phan Hồng T8 và Hồ Ngọc T3.

Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 24/10/2019 Bùi Phú T4 đang c u cá cùng Nguyễn Qu c C1, Nguyễn Huỳnh Anh K1, Lê Quản N1, Lê Nguyễn Kiều M2 tại khóm E, phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp thì Trần Ngọc H1 điện thoại cho T4 biết là Hồ Ngọc T3 nói có cùng T4 đi đến xã Q, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đánh Nguyễn Hải D và kêu T4 đến bờ kè Phường I, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp để nói chuyện.

Sau đó, T4 cùng C1, K1, N1, M2 đến bờ kè Phường I, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp để gặp H1. Lúc này tại bờ kè Phường I có T3, H1, Nguyễn Ngọc T2, Phạm Hoài T1, Nguyễn Hải D, Phan Thanh M1. Do T4 không có cùng T3 đến xã Q, huyện C đánh D, nên khi đến nơi T4 đến đánh T3, thì T1 nắm k o T4 ra và đánh nhau với T4. Lúc này M1 hỏi thì T4 trả lời không đi chung với T3 để đánh D nên M1 kêu nhóm của T4 đi về.

Sau đó M1, T1, P, D, T2 tiếp tục đến nhà trọ gần cầu M3 thuộc khóm Q1, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp để tìm Nguyễn Duy T6 là người đuổi đánh D. Do T6 đóng cửa ở trong phòng trọ không ra, nên tất cả ra về, trên đường về thì M1, T1, P, D, T2 đứng tập trung trước cửa tiệm u n tóc “T9” tọa lạc đường M3, khóm T10, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp.

Đ i với T4, sau khi bị đánh tại bờ kè Phường I, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp và được M1 cho về, đến khoảng 02 giờ 57 phút ngày 24/10/2019 T4 rủ Nguyễn Hoàng T và đưa cho T 01 cây súng tự chế để đi tìm nhóm của M1 đánh trả thù thì được T đồng ý.

Đ i với N1, C1, K1 lúc đầu có đi chung với T4 đến bờ kè Phường I nên cũng đi theo.

Khi T4 điều khiển xe mô tô chở T chạy trên đường M3, ngang tiệm u n tóc “T9” thì thấy nhóm của M1 đứng trước cửa tiệm, nên T xu ng xe, rồi dùng súng tự chế bắn vào nhóm của M1 làm cho M1, T1, P, D, T2 bị thương, xong T lên xe cho T4 chở tẩu thoát. Sau đó T đưa c y súng tự chế lại cho T4 và T4 đem đến cầu C2 n m bỏ xu ng sông, không thu hồi được.

Qua khám nghiệm hiện trường, xác minh, điều tra, Công an đã tiến hành trích xuất thu giữ dữ liệu camera có lưu giữ hình ảnh vụ c ý g y thương tích xảy ra vào ngày 24/10/2019 tại trước tiệm u n tóc “T9” thuộc khóm T10, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp do bị cáo T thực hiện và 01 túi nylon bên trong có nhiều viên kim loại màu đen và miếng mu t là vật có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T.

* Tại các bản kết luận giám định pháp y về thương tích các s 330/TgT; 331/TgT; 342/TgT cùng ngày 25/10/2019 và các s 344/TgT; 345/TgT cùng ngày 28/10/2019 của Trung t m pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể như sau:

- Phan Thanh M1: Sẹo vết thương phần mềm s lượng nhiều, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên tại thời điểm giám định là: 05%.

- Phạm Hoài T1: Sẹo vết thương phần mềm, s y sát da s lượng sẹo nhiều, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên tại thời điểm giám định là: 04%.

- Nguyễn Văn P: Sẹo vết thương phần mềm s lượng sẹo ít, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên tại thời điểm giám định là: 03%.

- Nguyễn Ngọc T2: Sẹo vết thương phần mềm s lượng ít, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên tại thời điểm giám định là: 01%.

- Nguyễn Hải D: Vết s y sát da vùng đùi phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên tại thời điểm giám định là: 01%.

Các bị hại Phan Thanh M1, Phạm Hoài T1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Hải D, Nguyễn Ngọc T2 bị bắn g y thương tích có đơn yêu cầu xử lý hình sự người g y thương tích và không yêu cầu bồi thường chi phí gì khác.

Tại bản cáo trạng s 24/CT-VKS-TPSĐ ngày 16/6/2021, Viện kiểm sát nh n d n thành ph Sa Đ c đã truy t bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành ph Sa Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị: Áp dụng Điểm a, i Khoản 1 Điều 134, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” với mức án 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của các bị hại, người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích s 330/TgT, 331/TgT, 342/TgT cùng ngày 25/10/2019 và các s 344/TgT, 345/TgT cùng ngày 28/10/2019 của Trung t m pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, vật chứng đã thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 57 phút ngày 24/10/2019 tại trước tiệm u n tóc T9, thuộc khóm T10, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Nguyễn Hoàng T không có m u thuẫn gì với nhóm của Nguyễn Hải D nhưng bị cáo đã sử dụng súng tự chế bắn g y thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể của: Phan Thanh M1 là 05%, Phạm Hoài T1 là 04%, Nguyễn Văn P là 03%, Nguyễn Hải D, Nguyễn Ngọc T2 mỗi người là 01%.

Bị cáo hiểu được sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Hành vi c ý g y thương tích hoặc g y tổn hại cho sức khỏe người khác sẽ bị pháp luật xử lý. Bị cáo cũng nhận thức được súng tự chế là hung khí nguy hiểm vì nếu bắn vào cơ thể người khác sẽ g y ra thương tích, nếu trúng vào những vị trí hiểm yếu có thể dẫn đến chết người. Thế nhưng, bị cáo không có m u thuẫn gì với nhóm của D nhưng khi được Bùi Phú T4 rủ bị cáo sử dụng súng tự chế bắn g y thương tích cho nhóm của D thì bị cáo đồng ý, sau đó T4 chở bị cáo đến trước tiệm u n tóc “T9”, khi thấy nhóm của D đang đứng thì bị cáo xu ng xe dùng súng tự chế bắn vào nhóm của D g y thương tích cho M1, T1, P, D, Ngọc T2.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, với lỗi c ý, x m phạm đến sức khỏe của người khác, g y ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo là người đã thành niên, về nh n th n bị cáo rất xấu, bị cáo đã 03 lần bị xử phạt tù về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, nếu bị cáo đã được cải tạo, học tập, giáo dục. Nếu như bị cáo biết ăn năn, h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất chăm lo cho gia đình và làm người công d n t t. Lẽ ra khi được T4 cho biết bị nhóm của D đánh và rủ bị cáo g y thương tích cho nhóm của D thì bị cáo phải từ ch i và khuyên can T4 từ bỏ. Thế nhưng với bản tính hung hăng, côn đồ bị cáo đồng ý cùng với T4 gây thương tích cho nhóm của D, sau đó T4 đưa cho bị cáo 01 cây súng tự chế để đi tìm nhóm của D trả thù. Khi nhìn thấy nhóm của D ở trước tiệm u n tóc T9 thì bị cáo liền lấy súng tự chế bắn vào nhóm của D làm cho M1, T1, P, D, T2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể của: M1 là 05%, T1 là 04%, P là 03%, D, T2 mỗi người là 01%. Sau khi bắn nhóm của D xong thì bị cáo lên xe cùng với T4 tẩu thoát và đưa c y súng tự chế lại cho T4 và T4 mang c y súng tự chế đến cầu C2 ném bỏ xu ng sông. Từ những ph n tích trên cho thấy hành vi của bị cáo là đủ yếu t cấu thành tội “C ý g y thương tích” theo Điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) ………………..

i) Có tính chất côn đồ;

k)………………..”

X t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công d n t t, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tính mạng, sức khỏe của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự và xử lý vật chứng đã được giải quyết và xử lý tại bản án s 04/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.

Đ i với 01 USB lưu giữ hình ảnh bị cáo Nguyễn Hoàng T thực hiện hành vi phạm tội xảy ra trước tiệm u n tóc “T9” thuộc khóm T10, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp cần được lưu giữ trong hồ sơ đảm bảo giải quyết vụ án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a, i Khoản 1 Điều 134, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2021 (ngày tạm giữ).

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: đã được giải quyết và xử lý tại bản án s 04/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.

Đ i với 01 USB lưu giữ hình ảnh bị cáo Nguyễn Hoàng T thực hiện hành vi phạm tội xảy ra trước tiệm u n tóc “T9” thuộc khóm T10, phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp cần được lưu giữ trong hồ sơ đảm bảo giải quyết vụ án.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016

Bị cáo Nguyễn Hoàng T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ