vanban.org

Bản án 31

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa án sơ thẩm, tuyên xử:

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu Thắng phạm tội "Trộm cắp tài sản", "Cướp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa án sơ thẩm, tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 31/2020/HS-PT
Ngày: 14-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc

Các Thẩm phán:

Bà Mai Thị Tú Oanh

Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 556/2019/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 319/2019/HS-ST ngày 27-8-2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng nghị:

Nguyễn Hữu Th, sinh năm: 1994 tại: Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT: Thôn Lập Thành, xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, nơi cư trú: 66/7 Đường số 45, phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Hữu Nguyện, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Hiệp, sinh năm 1947; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2018, (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lương Văn T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản:

Vào năm 2011, Nguyễn Hữu Th và anh Trần Duy H quen biết với nhau, Th đã nhiều lần đến nhà anh H chơi. Ngày 10/3/2016, Th mời anh H đi uống rượu, bia và hẹn gặp anh H trên đường Song Hành, huyện Hóc Môn. Khi Th và anh H gặp nhau trên đường Song Hành cả hai cùng đi vào quán (không nhớ tên trên đường Song Hành) ăn, uống mỗi người khoảng 5 chai bia thì anh H bị say, Th lấy xe gắn máy hiệu Taurus của anh H chở anh H về nhà tại địa chỉ 94/1S ấp Mỹ Hòa 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, còn xe gắn máy của Th thì gửi lại tại quán. Khi về đến nhà, Th đưa anh H vào nằm ngủ tại phòng khách. Lúc này, Th thấy trong nhà anh H còn có chiếc xe gắn máy hiệu Airblade biển số 59Y1-858.38 có gắn chìa khóa trên xe nên Th nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này. Th lấy xe Airblade của anh H chạy đến điểm giữ xe trên địa bàn quận 12 (không nhớ địa chỉ) gửi chiếc xe này tại bãi giữ xe rồi quay lại quán lấy xe của Th chạy về phòng trọ của mình rồi đi đến bãi giữ xe lấy chiếc xe Airblade đem về phòng trọ. Th mở cốp xe Airblade thấy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 bản photo sổ hộ khẩu và 01 bản photo giấy CMND tất cả mang tên của anh H. Sau đó, Th chặn số điện thoại, chặn Zalo cắt đứt liên lạc với anh H. Th sử dụng chiếc xe Airblade của anh H làm phương tiện đi lại cho đến tháng 4/2018 Th thực hiện hành vi cướp tài sản, khi Cơ quan điều tra bắt giữ Th thì thu giữ chiếc xe này.

Tại Cơ quan điều tra - Công an TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Hữu Th đã khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe Airblade biển số 59Y1-858.38 của anh H như đã nêu trên.

Sau khi bị mất cắp chiếc xe Airblade anh H đến Công an xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn trình báo. Anh H còn khai báo bị mất 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 05 chỉ và 01 điện thoại di động Nokia Lumia 540 nhưng không có gì để chứng minh. Th cũng không thừa nhận lấy cắp chiếc nhẫn và điện thoại của anh H.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 50/2016 ngày 07/4/2016 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Hóc Môn. Kết luận: chiếc xe Airblade biển số 59Y1-858.38 trị giá 34.000.000 đồng (bút lục số 85).

2. Hành vi phạm tội cướp tài sản:

Vào cuối tháng 02/2018, Nguyễn Hữu Th sử dụng tên Zalo là “Nguyen Long” làm quen và kết bạn với anh Khấu Hoàng B sử dụng tên Zalo là “Khau Buu” (không biết mặt nhau). Th và anh B nhiều lần nhắn tin, kể chuyện qua lại với nhau qua mạng Zalo. Vào khoảng 23 giờ ngày 02/3/2018, Th nhắn tin qua Zalo rủ anh B đến quán tại khu vực đường Thoại Ngọc Hầu, quận Tân Phú để đi ăn, uống rượu bia với Th và bạn của Th tên là “Tư Hiếu”, nhưng thực tế vào thời điểm trên Th đang ở phòng trọ của Th tại địa chỉ 66/7 Đường số 45, phường 14, quận Gò Vấp và người bạn tên “Tư Hiếu” cũng do Th tự nghĩ ra. Khi nhận được tin nhắn thì anh B đồng ý và nhắn tin lại cho Th đợi anh B đến đi cùng vào quán, anh B có cho Th số điện thoại di động để Th liên lạc với anh B. Sau khi điện thoại nói chuyện với anh B xong, khoảng 02 phút sau Th nhắn tin qua Zalo cho anh B là điện thoại của Th sắp hết pin và kêu anh B có gì liên lạc qua số điện thoại 0935646334 của Tư Hiếu, bạn của Th đang cùng ở quán. Tiếp đó, Th sử dụng số điện thoại 0935646334, tự xưng là Tư Hiếu nói với anh B là đã say và trời đã khuya hẹn anh B vào ngày mai 03/3/2018 đi ăn, uống rượu, bia. Th nói tiếp với anh B là hôm sau Long (tên Zalo của Th) đi Bình Thuận nhưng anh B nói lại nếu Long đi Bình Thuận thì anh B và Tư H (cũng là Th) đi ăn, uống rượu, bia cũng được.

Vào sáng ngày 03/3/2018, anh B và Th nhắn tin qua lại hẹn lúc 19 giờ gặp nhau đi ăn, uống. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, Th chạy chiếc xe gắn máy hiệu Wave ( xe này do Th thuê xe tại quận 8 và cũng không nhớ địa chỉ) đi đến nhà anh B, chở anh B đến quán ở phía sau siêu thị Nguyễn Kim trên đường Lý Thường Kiệt, quận Tân Bình để ăn, uống bia. Cả hai cùng ăn, uống hết 15 chai bia Tiger (mỗi người 07,5 chai) thì nghỉ không uống tại quán nữa và thống nhất mua một phần nghêu hấp xả mang về nhà anh B để nấu cháo ăn và uống rượu tiếp. Th chở anh B đi về nhà, trên đường đi Th ghé tiệp tạp hóa trên đường Thành Thái, quận 10 mua cháo ăn liền về nấu cháo nghêu.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả 2 về đến nhà của anh B, khi anh B xuống bếp nấu cháo nghêu, Th lấy nước đá trong tủ lạnh ra bỏ vào ly uống rượu. Thấy anh B ở nhà chỉ có một mình, nhà có điều kiện khá giả nên Th nảy sinh ý định bỏ thuốc ngủ vào cháo cho anh B ăn để chiếm đoạt tài sản trong nhà của anh B. Lợi dụng lúc anh B đang quét dọn, Th mở cốp xe Wave của Th lấy 02 viên thuốc ngủ màu vàng (Th khai bị mất ngủ nên mua thuốc ngủ uống cho dễ ngủ) mang đến chỗ bàn ăn để vào chén và dùng đũa nghiền nát thuốc ra cho vào một góc của nồi cháo nghêu. Sau khi dọn vệ sinh xong, anh B vào múc cháo nghêu cho mỗi người 01 chén vừa ăn cháo vừa uống rượu. Do Th đã bỏ thuốc ngủ vào nồi cháo nên khi ăn cháo Th chỉ ăn một ít, anh B ăn hết chén cháo thì Th múc hết phần cháo nghêu còn lại trong nồi cho vào chén của anh B để anh B ăn và mỗi người uống khoảng 03 ly rượu thì nghỉ. Anh B dọn dẹp bàn ăn và kêu Th ở lại nhà ngủ, Th đồng ý. Anh B dẫn Th lên phòng ngủ tại tầng 2, cả 02 cùng vào phòng ngủ. Th và anh B nằm nói chuyện một lúc thì Th nói với anh B để đi xuống tầng trệt tắt đèn.

Khi Th đi xuống tầng trệt tắt đèn xong, Th đi lên tầng 1 thấy phòng ngủ không khóa cửa chỉ khép hờ, nhìn vào bên trong không có người Th mở đèn của điện thoại đi vào bên trong thấy có 01 laptop hiệu Sony Vaio màu đen và 01 laptop hiệu Dell màu đen, Th đi lên tầng 2 về phòng ngủ nhưng thấy anh B vẫn chưa ngủ, Th nằm cạnh anh B ngủ đến khoảng 02 giờ sáng ngày 04/3/2018, Th thức dậy đi xuống phòng ngủ tầng 1 để lấy 02 laptop. Lục tìm tài sản trong tủ quần, áo thấy 01 túi xách trong ngăn kéo bên trong có một tờ 100USD, một tờ 10USD và 130 Euro Th lấy hết số tiền này rồi đóng tủ lại, Th thấy trong phòng có 01 két sắt nhưng mở không được, Th có thấy anh B có để chùm chìa khóa tại kệ để giày, dép tại tầng trệt nên đi xuống lấy chùm chìa khóa, Th đi lên phòng ngủ tầng 1 dùng chìa khóa mở két sắt nhưng không được, Th lật ngược két sắt, dùng chân đạp 02 - 03 cái từ trên xuống vào tay ổ khóa thì thấy bản lề của két sắt bung ra thấy bên trong két có 05 miếng vàng SJC (01 lượng/01 miếng), 01 xấp tiền 100 tờ mệnh giá 02USD, 01 tờ mệnh giá 20USD, 01 xấp tiền 100 tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ, 08 tờ tiền mệnh giá 200.000 VNĐ, 09 mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng và màu vàng, 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, Th lấy hết số tài sản bỏ vào túi nilon rồi đẩy két sắt vào vị trí cũ.

Tiếp đến, Th đi lên phòng ngủ của anh B để lấy 01 điện thoại Iphone của anh B, lục tìm trong tủ quần áo phòng ngủ anh B thấy có hộp nữ trang màu đỏ bên trong có sợi dây chuyền bằng vải màu đen có mặt bằng đá hình giọt nước bên trong có hình phật màu vàng, 01 vòng đeo tay bằng vải có gắn hình thú bằng kim loại màu vàng, 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng và trắng hình kim tiền. Th lấy hộp nữ trang bỏ vào túi xách và lấy 01 cái bóp trong túi quần của anh B đang mặc bên trong bóp có khoảng 7.000.000 đồng cùng giấy tờ tùy thân của anh B bỏ vào trong túi xách rồi Th lấy chìa khóa mở cửa cổng và để chùm chìa khóa tại kệ đựng dép, tắt đèn và đóng cửa nhà, dẫn xe gắn máy ra ngoài đóng cửa cổng lại, chạy xe mang số tài sản đi về phòng trọ của Th tại địa chỉ 66/7 Đường số 45, phường 14, quận Gò Vấp cất giấu.

Sau đó, Th xóa bỏ tài khoản Zalo tên “Nguyen Long” mà Th sử dụng kết bạn với anh B, vứt bỏ số điện thoại 0935646334. Th mang bán số vàng, ngoại tệ (Euro và USD) và tiền đồng Việt Nam lấy của anh B để trả nợ cho người tên Bờm và tên Minh (không rõ địa chỉ) hết 127.000.000 đồng, chuộc lại chiếc xe Airblade biển số 59Y-858.38 đã mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ trên đường Bà Hom hết 25.000.000 đồng, mua điện thoại Iphone X hết 26.000.000 đồng, 01 laptop hiệu Asus hết 6.800.000 đồng, mua 01 điện thoại Iphone 6 Plus gía 1.500.000 đồng, số tiền còn lại Th tiêu xài hết và bỏ trốn về quê tại tỉnh Quảng Ngãi.

Đến lúc 11 giờ ngày 04/3/2018 bà Khấu Thị Thiên Kim là chị ruột của anh Khấu Hoàng B cũng là chủ sở hữu căn nhà 456/29L đường Cao Th, Phường 12, Quận 10 đến Công an Phường 12, Quận 10 trình báo sự việc. Nhận được tin báo, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dấu vết.

Đến ngày 22/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 10, bắt giữ được Nguyễn Hữu Th, khám xét nhà trọ của Th tại số 66/7 đường số 5, phường 14, quận Gò Vấp. Thu giữ được 02 máy laptop, 02 tượng đá hình ông Thần Tài và ông Thổ Địa, 01 giấy phép lái xe mang tên anh B, hộp nữ trang có nhiều dây chuyền, mặt dây chuyền và nhẫn kim loại màu vàng... Nguyễn Hữu Th đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản tại nhà 456/29L đường Cao Th, Phường 12, Quận 10 như đã nêu trên. Đối với 02 viên thuốc ngủ Th nghiền nát cho vào cháo nghêu anh B ăn, đó là thuốc ngủ do Th mua trước đó tại tiệm thuốc tây trên đường Nguyễn Văn Quá, Quận 12.

Theo kết luận định giá tài sản số 392/KL-ĐGTS ngày 31/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Quận 10 kết luận: Tổng tài sản nêu trên có giá trị là 239.065.420 đồng (bút lục số 86 đến số 88).

Bản kết luận giám định Pháp y về hóa pháp số MS 328/ĐC.2018 ngày 19/3/2018 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, về mẫu máu và nước tiểu của anh Khấu Hoàng B, kết luận: “Có sự hiện diện của Bromazepam (thuốc an thần, giải lo âu, gây ngủ).

- Được sử dụng trong trạng thái lo âu, kích động, mất ngủ.

- Sảng rượu cấp, các bệnh tiền sảng và hội chứng cai rượu cấp.

- Co cứng cơ do não hoặc do thần kinh ngoại vi.

- Co giật do sốt cao, trạng thái động kinh, co giật do ngộ độc thuốc.

- Tiền mê trước phẫu thuật”. (bút lục 65 - 66)

Tại Công văn giải thích pháp y số 01/ĐC.TTPY.GT-18 ngày 22/6/2018 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, trả lời: - Bromazepam (thuốc an thần, giải lo âu, gây ngủ) có tác dụng gây ngủ, chóng mặt, mất điều vận, có khả năng tử vong.

- 99,25% thuốc được thải ra khỏi cơ thể sau một khoảng thời gian gấp 7 lần thời gian bán thải. Thời gian bán thải của Bromazepam là 12 - 27 giờ, nên thời gian để 99,25% thuốc Bromazepam thải ra khỏi cơ thể là 84-189 giờ.

- Tổng thời gian từ 23 giờ 30 phút ngày 03/3/2018 đến 17 giờ 20 phút ngày 05/3/2018 là 52 giờ nên trong cơ thể của anh B vẫn còn tồn tại Bromazepam (bút lục 68).

Vật chứng thu giữ:

- Có bảng kê kèm theo, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản đã thu được cho bà Khấu Thị Thiên Kim, anh Khấu Hoàng B và anh Trần Duy H.

- Riêng đối với chiếc điện thoại Iphone màu trắng, IMEI 353043095869783 và có sim MobiFone. Đây là tài sản Th sử dụng tiền phạm tội mà có mua điện thoại, Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng, chuyển tòa xử lý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 3192019/HS-ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168 và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 11 (mười một) năm tù, về tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo Nguyễn Hữu Th phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 6/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị số 48/QĐ-VKS-P2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu Th về tội “Cướp tài sản”.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục mở phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bị cáo và luật sư được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về hình thức: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định.

Về nội dung: Giữ nguyên kháng nghị. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân; Bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt dưới khung là chưa đúng, mức hình phạt cũng không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị chấp nhận kháng nghị, xử phạt bị cáp Nguyễn Hữu Th từ 13 đến 15 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Hữu Th thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, bị cáo thực sự ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, đề nghị giữ nguyên mức án như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội thể hiện bị cáo ăn năn hối cải, tài sản bị cáo chiếm đoạt cũng đã được thu hồi hoàn trả một phần cho người bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ thiệt hại cũng như các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đưa ra mức án phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của kiểm sát viên, luật sư bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hình thức: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung: Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bi ̣ cáo Nguyễn Hữu Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người bị hại. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội, biên bản tạm giữ đồ vật – tài liệu, biên bản nhận dạng, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo bị truy tố, xét xử theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 12 đến 20 năm tù, bị cáo chỉ có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 11 năm tù là trái quy định, chưa tương xứng với hành vi phạm tội, cần tăng hình phạt đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa án sơ thẩm, tuyên xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168 và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 13 (mười ba) năm tù, về tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo Nguyễn Hữu Th phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2018.

2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Tú Oanh

Phan Nhựt Bình

Phan Tô Ngọc

Cỡ chữ