vanban.org

Bản án 31/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Hoàng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HS-ST
Ngày 09/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Đăng Thiện

- Bà Lê Thị Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng H; sinh ngày 19/8/1998 tại xã Kim Tân, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn An Tiến, xã Kim Tân, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038098013187, cấp ngày 05/01/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng S, con bà Bùi Thị S; Có vợ là Bùi Thị H Hợp, bị cáo chưa có con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 04/12/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. Ngày 18/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai bản án: Trừ đi thời gian tạm giam 03 tháng 25 ngày, buộc bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 05 ngày tù (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Yên Định (Cơ sở 1), Công an tỉnh Thanh Hóa (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Anh Quách Ngọc Việt; Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn Song Nga, xã Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

Anh H Ngọc Tuấn; Địa chỉ: Thôn Duyên Thượng, xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 25/11/2025, Nguyễn Tro ̣ng Hoàng đi bộ đến cửa hàng điện thoại Ngọc Tuấn ở thôn Tân Ngữ 2, xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (do anh Hoàng Ngo ̣c Tuấn, sinh năm 1992, ở thôn Duyên Thượng 1, xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa làm chủ ) để mua điện thoại. Đến nơi Hoàng cho ̣n điê ̣n thoa ̣i xong thì ngồi ở ghế sofa ca ̣nh bàn uống n ước bên trong quán để kiểm tra chiếc điê ̣n thoa ̣i. Khoảng 15 phút sau anh Quách Ng ọc Việt, sinh năm 1981, ở thôn Song Nga, xã Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa đến cửa hàng điện thoại Ngọc Tuấn để sửa điện thoại. Sau khi đưa điện thoại cho anh Tuấn sửa, anh Việt ngồi ở ghế một lúc rồi đi ra cây ATM của Ngân hàng Vietcombank gần cổng Bệnh viện Đa khoa Yên Định rút số tiền: 2.000.000 đồng bỏ vào ví, lúc đó bên trong ví anh Việt đang còn số tiền: 150.000 đồng (tổng số tiền có trong ví anh Việt là: 2.150.000 đồng). Sau đó anh Việt bỏ ví vào túi quần bên trái và quay lại cửa hàng điện thoại Ngọc Tuấn. Đến nơi, anh Việt ngồi ở ghế đơn ca ̣nh bàn uống n ước phía trước ghế H ngồi để chờ anh Tuấn s ửa điện thoại. Trong lúc n gồi đợi sửa điện thoại ví của anh Việt rơi xuống nền nhà bên trong c ửa hàng. Lúc này H đang ngồi phía sau phát hiện thấy chiếc vi của anh Viê ̣t rơi dưới nền nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. H quan sát

́ xung quanh, không thấy ai để ý nên đã lén lút dùng tay nhặt chiếc ví cất vào túi áo bên trái Hoàng đang mặc. Sau khi lấy được vi của anh Việt, H trả lại điê ̣n thoa ̣i

́

đang xem cho anh Tuấn hẹn sẽ quay lại mua sau , rồi nhanh chóng bỏ đi. Sau khi đi bô ̣ ra khỏi c ửa hàng H lấy ví trộm cắp được ra kiểm tra trong ví có 2.150.000 đồng; 01 (một) Căn cước công dân; 01 (một) thẻ ATM của ngân hàng AGRIBANK; 01 (một) thẻ ATM của ngân hàng Vietcombank; 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế; 01 (một) Giấy phép lái xe, tất cả các giấy tờ trên đều mang tên Quách Ngọc Việt. Sau đó H đã sử dụng số tiền trộm cắp được để tiêu xài cá nhân hết, còn chiếc vi và các giấy t ờ có liên quan H vẫn giữ trong người. Đến 22 giờ 30 phút

́ ngày 26/11/2025, khi biết Công an đang xác minh vụ trộm cắp tài sản tại xã Yên Định nên H đã đến Công an xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đầu thú, giao nộp chiếc ví và các giấy tờ trong ví của anh Quách Ngọc Việt cho cơ quan Công an. Đối với số tiền 2.150.000 đồng H đã chi tiêu hết và không nhớ đã tiêu xài những đâu nên Công an không thu giữ được.

Ngày 03/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc ví da của anh Việt bị trộm cắp, tại Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã Yên Định kết luận: 01 (một) ví da hình chữ nhật, màu nâu (loại ví nam, dạng ví gấp, đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm xảy ra sự việc là: 10.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 (hai) file video trích xuất từ camera của cửa hàng Ngọc Tuấn có ghi lại diễn biến vụ việc được lưu trữ trong 01 đĩa DVD. Tại bản Kết luận giám định số 84/KL - KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các video lưu trong mẫu vật gửi giám định, trích xuất 07 (bảy) ảnh trong 04 (bốn) trang giấy A4.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

Đối với chiếc ví da và các giấy tờ cá nhân nêu trên đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Quách Ngọc Việt. 02 (hai) file video được lưu trữ trong 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh phạm tội của H được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 11/01/2026 gia đình của Nguyễn Trọng H đã bồi thường cho bị hại anh Quách Ngọc Việt số tiền 2.150.000 đồng. Anh Việt đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKSKV8 ngày 15/01/2026 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trọng H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/11/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa và không tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

Tại phiên toà, bị hại anh Quách Ngọc Việt và ngườ i làm chứ ng anh H Ngọc Tuấn vắng mặt, mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng H đa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng̃ đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ

̃ , các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 25/11/2025 tại cửa hàng điện thoại Ngọc Tuấn có địa chỉ tại thôn Tân Ngữ 2, xã Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Trọng H lợi dụng sơ hở của bị hại đã lén lút trộm cắp một chiếc ví bên trong có số tiền 2.150.000 đồng (hai triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Quách Ngọc Việt.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trọng H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã khắc phục bồi thường thiệt hại, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú tại cơ quan điều tra và bị hại có có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về hành vi cùng loại t ội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo du ̣c răn đe và phòng ngừ a chung . Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát đề nghị buô ̣c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ , được Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ các Điều 292, khoản 1 Điều 293, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 299, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ