vanban.org

Bản án 31/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: * Giao các bị cáo Lành Anh T, Triệu Khánh T4 cho UBND phường H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục các bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lành Anh T - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HS-ST
Ngày: 18/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Khương Thị Thu - Nghề nghiệp: Giáo viên;

+ Ông Trương Thế Dương - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 18/5/2026, tại Phòng xử án Hình sự, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2026/TLST-HS ngày 13/4/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2026/QĐ-TA ngày 07/5/2026 đối với các bị cáo:

xxxx do Cục C2 về TTXH - Bộ C3, cấp ngày 01/12/2022; nơi ĐKHKTT: Đường N, tổ E Q, phường H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Lô Lô; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lành Văn T1, sinh năm 1980 (đã chết năm 2024) và bà Mai Thúy D, sinh năm 1986 (đã chết năm 2014); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

2. Mai Anh T2; sinh ngày 12/11/2007 tại tỉnh Tuyên Quang; CCCD số 00820xxxxxxx; do Cục C2 về TTXH - Bộ C3, cấp ngày 12/4/2022; nơi cư trú: Tổ dân phố D N, phường H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thanh T3, sinh năm 1977 và bà Đoàn Thị D1, sinh năm 1981; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

3. Triệu Khánh T4; sinh ngày 11/01/2007 tại xã C, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số 00220xxxxxxx, do Cục C2 về TTXH - Bộ C3, cấp ngày 20/8/2021; nơi cư trú: Đường T, tổ H Q, phường H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn H, sinh năm: 1977 và bà Hoàng Thị Ả (đã chết năm 2022); vợ, con chưa có;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lành Anh T: Bà Mùng Thị K, sinh năm: 1943 (bà nội của bị cáo Lành Anh T); địa chỉ: Tổ E Q, phường H, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Mai Anh T2: Bà Đoàn Thị D1, sinh năm 1981 (mẹ đẻ của bị cáo Mai Anh T2); địa chỉ: Thôn N, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lành Anh T: Ông Nguyễn Xuân G - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T9 tỉnh Tuyên Quang; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Mai Anh T2: Ông Hoàng Ngọc C - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T9 tỉnh Tuyên Quang; có đơn xin vắng mặt

- Bị hại: + Bàn Viễn T5, sinh ngày 01/11/2009; người đại diện hợp pháp: Bà Quan Thị T6, sinh năm: 1989; cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Tuyên Quang; cùng vắng mặt không lý do.

+ Hoàng Minh N, sinh ngày 02/7/2010; người đại diện hợp pháp: Bà Cháng Thị X, sinh năm: 1964; cùng trú tại: Thôn N, xã P, tỉnh Tuyên Quang; cùng vắng mặt không lý do.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N: Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh T9; địa chỉ: Đường T, phường H, tỉnh Tuyên Quang; có đơn xin vắng mặt.

- Đại diện Trường THPT L4: Ông Vương Tiến D2, sinh năm 1984 - Giáo viên; có mặt.

- Người làm công tác xã hội thuộc UBND phường H, tỉnh Tuyên Quang: Vắng mặt

- Người làm chứng: Nguyễn Đức N1; Mai Mạnh L1 (cùng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 ngày 12/8/2025, sau khi chơi bi-a tại quán T10, địa chỉ tại tổ E, phường H, tỉnh Tuyên Quang, (1)Vương Trần B, sinh ngày 16/8/2008, trú tại Tổ G phường H, tỉnh Tuyên Quang; (2)Mai Thế V, sinh ngày 31/7/2008, trú tại thôn L, phường H, tỉnh Tuyên Quang; (3)H, sinh ngày 10/6/2008, trú tại: Thôn T, xã B, tỉnh Tuyên Quang; (4)Triệu Khánh T4, sinh ngày 11/01/2007, trú tại tổ H Q, phường H, tỉnh Tuyên Quang; (5)Mai Anh T2, sinh ngày 12/11/2007, trú tại tổ D N, phường H, tỉnh Tuyên Quang; (6)Lành Anh T, sinh ngày 28/8/2007, trú tại tổ E Q, phường H, tỉnh Tuyên Quang rủ nhau điều khiển 02 chiếc xe mô tô (trong đó Triệu Khánh T4 điều khiển 01 xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh - xe của bà Đoàn Thị D1 là mẹ của Mai Anh T2, chở Mai Thế V và Mai Anh T2; V1 Trần Bảo điều khiển 01 xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh đen - xe của bà Mùng Thị K là bà nội của Lành Anh T, chở theo Lành Anh T và Hoàng L2) không đội mũ bảo hiểm, di chuyển theo Quốc lộ D hướng từ cổng Tỉnh ủy H2 (cũ) lên cầu C thuộc tổ H Q, phường H. Khi di chuyển đến nhà hàng S thuộc tổ D Q, phường H thì gặp anh Bàn Viễn T5, sinh ngày 01/11/2009, trú tại xã thôn N, xã N, tỉnh Tuyên Quang; Hoàng Minh N, sinh ngày 02/7/2010, trú tại Thôn N, xã P, tỉnh Tuyên Quang; Bồn Văn D3, sinh ngày 01/04/2005, trú tại Thôn L, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang; Tẩn T sinh ngày 06/03/2009, trú tại Thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang đi xe máy ngược chiều. Vương Trần Bảo C1 “địt mẹ chúng mày, thích nhìn không?”, sau đó Lành Anh T cầm chai nước ngọt (chất liệu nhựa dẻo) đang uống dở ném vào đầu N (không gây thương tích). Thấy vậy, T5, N, D3 quay đầu xe bỏ chạy, lúc này Lành Anh T nói với nhóm của mình “đi về quán T10-a lấy đồ”, rồi cả nhóm quay đầu xe về thẳng quán T10. Khi đến quán T10 đi lên tầng 2, lấy 02 con dao đã có từ trước tại tủ đựng đồ của quán, những người còn lại ngồi dưới xe chờ. Sau đó, cả 06 đối tượng quay lại theo đường cũ theo hướng quốc lộ D đi trên 02 xe gồm: Triệu Khánh T4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23M1-182.90 chở Mai Thế V ngồi giữa, Mai Anh T2 ngồi sau (V cầm theo 01 con dao); Vương Trần B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23B1-740.62 chở Lành Anh T ngồi giữa và Hoàng L2 ngồi sau (Lành Anh T cầm 01 con dao), sau khi đi khoảng 03Km, đến cổng ký túc xá trường Cao đẳng kỹ thuật và công nghệ H thì thấy T5, N, D3 đang dừng xe ở cổng. Nhóm của Lành Anh T cùng nhau lao vào hô “Mày gọi đi, đ… con mẹ chúng mày gọi người đi”. Thấy vậy, T5, N, D3 bỏ xe chạy và trèo tường rào nhảy vào ký túc xá của Trường Cao Đẳng K1, tỉnh Tuyên Quang để trốn. Sau khi T5, N, D3 bỏ chạy, Lành Anh T cầm theo 01 con dao quay lại chỗ để xe của nhóm T5 chém vào biển kiểm soát xe máy của N, còn Mai Thế V cầm 01 con dao cùng với Triệu Khánh T4 lao vào đạp đổ xe máy và chém vỡ phần cánh yếm xe của T5. Sau đó, 06 đối tượng trên điều khiển xe máy về quán bi-a cất giấu 02 con dao vào tủ rồi chơi bi-a đến gần sáng ngày hôm sau thì về nhà. Hậu quả: Hành vi trên của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của các hộ dân, Trường học, xung quanh khu vực nơi các bị cáo tụ tập, đuổi đánh nhau. Thiệt hại về tài sản: Xe mô tô biển kiểm soát 23AA-053.09 bị vỡ 01 bên cánh yếm trái, biển kiểm soát xe bị móp méo; xe mô tô nhãn hiệu DAEEHAN màu sơn xanh, khung biển số bị gãy rời khỏi chắn bùn đuôi xe, mặt kính bảo vệ biển số bị vỡ, vành viền khung biển kiểm soát số bị gãy. Tại kết luận giám định số 1300/KL-KTHS ngày 10/10/2025, Phòng K2, Công an tỉnh T kết luận: Mẫu cần giám định ký hiệu A1 là mã tấu, thuộc danh mục vũ khí thô sơ, được quy định tại phụ lục 3, danh mục vũ khí thô sơ, ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C3. Mẫu cần giám định ký hiệu A2 là đao, thuộc danh mục vũ khí thô sơ, được quy định tại phụ lục 3, danh mục vũ khí thô sơ, ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C3. Tại kết luận giám định số 1301/KL-KTHS ngày 10/10/2025, Phòng K2, Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung trong mẫu giám định ký hiệu A. Trích xuất được 17 ảnh diễn biến hành động của những người trong mẫu cần giám định ký hiệu A (video trích xuất ở khu vực hiện trường).

Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2025, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân tỉnh T, kết luận: Phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu WAYEINDONA, biển kiểm soát 23AA-053.09 và phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu DAEEHAN, biển kiểm soát 23AA-025.08 có giá trị tại thời điểm định giá ngày 12/8/2025 là 415.000đ. Cáo trạng số 44/CT-VKSKV4 ngày 11/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố các bị cáo: Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố;

Các bị hại Bàn Viễn T5, Hoàng Minh N; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại Hoàng Minh N đã nhận đủ số tiền 1.000.000đ các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản và tổn thất về tinh thần, bị hại N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 03 bị cáo. Đối với bị hại Bàn Viễn T5 và người đại diện hợp pháp, sau khi vụ việc xảy ra đã bỏ đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

1. Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lành Anh T; xử phạt bị cáo Lành Anh T từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 15 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lành Anh T cho UBND phường H, tỉnh Tuyên Quang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2.2. Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Khánh T4; xử phạt bị cáo Triệu Khánh T4 từ 24 đến 26 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Triệu Khánh T4 cho UBND phường H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2.3. Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 khoản Điều 318; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Mai Anh T2 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Mai Anh T2 cho UBND Phường H, tỉnh Tuyên Quang, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của các bị cáo. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND phường H nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. 3. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận số tiền 300.000đ các bị cáo tự nguyện nộp vào Thi hành án Dân sự tỉnh Tuyên Quang để bồi thường cho anh Bàn Viễn T5. 4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 con dao bằng kim loại (trong đó 01 con dao có kích thước dài 52,5cm, rộng 04cm, một lưỡi sắc; 01 con dao có kích thước dài 53cm, rộng 5,5cm). 5. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Ông Nguyễn Xuân G - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T9 tỉnh Tuyên Quang là người bào chữa cho bị cáo Lành Anh T trình bày: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Lành Anh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã liên đới cùng các đồng phạm bồi thường toàn bộ thiệu hại cho các bị hại; bị hại và gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo; ông bà nội bị cáo là người có công với cách mạng; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Vì vậy, người bào chữa thấy rằng mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Lành Anh T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo là tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tiếp tục được học tập. Về phần trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.000.000đ các bị cáo đã liên đới bồi thường cho bị hại Nhất, việc bồi thường đã thực hiện xong nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Đối với số tiền 300.000đ các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại T5 và giao nộp biên lai cho Hội đồng xét xử, đề nghị được ghi nhận trong Bản án.

- Ông Hoàng Ngọc C - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T9 tỉnh Tuyên Quang là người bào chữa cho bị cáo Mai Anh T2 vắng mặt tại phiên tòa, trong luận cứ bào chữa cho bị cáo ông C trình bày: Nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 đối với bị cáo Mai Anh T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo Mai Anh T2 tham gia với vai trò giúp sức, tại thời điểm thực hiện tội phạm bị cáo Mai Anh T2 chưa thành niên; các giai đoạn điều tra, truy tố đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho các bị hại. Vì vậy, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 118 Luật Tư pháp người chưa thành niên; xử phạt bị cáo Mai Anh T2 từ 06 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2; người đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí luận cứ bào chữa của người bào chữa, không bổ sung ý kiến và không tham gia tranh luận. Bị cáo Triệu Khánh T4 nhất trí đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận.

* Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T9 tỉnh Tuyên Quang là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại vắng mặt tại phiên tòa, trong bản luận cứ bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp cho các bị hại bà L trình bày: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên, các bị hại chỉ bị thiệt hại về tài sản với số tiền không lớn, các bị cáo đều có ý thức bồi thường cho bị hại, trong đó cả 03 bị cáo đã liên đới bồi thường xong cho bị hại Hoàng Minh N, bị hại N và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Thời điểm hiện tại cả 03 bị cáo đều đang là học sinh, sinh viên, do đó Trợ giúp viên pháp lý tôn trọng ý kiến của bị hại Nhất, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý các bị cáo mức hình phạt thấp nhất, để các bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập và sửa chữa lỗi lầm. Về phần bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Hoàng Minh N tổng số tiền 1.000.000đ, do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết. Đối với số tiền thiệt hại về tài sản của bị hại Bàn Viễn T5 là 215.000đ, đề nghị các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại T5 theo quy định của pháp luật.

Đại diện Trường THPT L4 - Thầy Vương Tiến D2 trình bày: Bị cáo Lành Anh T thời điểm hiện tại đang học lớp 12C7 của Trường THPT L4, do Thầy D2 làm giáo viên chủ nhiệm. Trong quá trình học tập tại trường về cơ bản Lành Anh T, đều chấp hành tốt nội quy, quy định nhà trường, không bị xử lý kỷ luật. Thời điểm Lành Anh T thực hiện hành vi phạm tội là mùa hè nên Nhà trường không quản lý học sinh và không nắm được Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo diễn biến vụ việc, giáo viên chủ nhiệm đã có trách nhiệm nhắc nhở đối với học sinh của mình. Quan điểm của nhà trường đồng tình với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải xử lý đối với hành vi vi phạm của em để làm gương. Song, xét hoàn cảnh gia đình của gia đình bị cáo Lành Anh T rất éo le, bố mẹ đẻ của bị cáo đều đã chết, hiện nay bị cáo đang ở cùng bà nội đã lớn tuổi. Vì vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét xử lý cho em Lành Anh T biện pháp nhẹ nhất, bảo đảm tính nhân văn để bị cáo có điều kiện tiếp tục được học tập, có cơ hội phấn đấu vươn lên trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Kết thúc phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái với pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội tiếp tục được tham gia học tập.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; trợ giúp viên pháp lý đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật nên đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa vắng mặt trợ giúp viên pháp lý Hoàng Ngọc C, là người bào chữa cho bị cáo Mai Anh T2; vắng mặt bà Nguyễn Thị L là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại; vắng mặt các bị hại Hoàng Minh N, Bàn Viễn T5 và người đại diện hợp pháp của họ; vắng mặt những người làm chứng và người làm công tác xã hội Phường H, tỉnh Tuyên Quang. Xét thấy, ông C, bà L có đơn xin vắng mặt, đồng thời ông C gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo Mai Tuấn A, bà L gửi luận cứ bảo vệ quyền lợi cho các bị hại, là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Mai Anh T2 và các bị hại. Tại thời điểm vụ án được đưa ra xét xử, các bị cáo đều đã thành niên; những người làm chứng có đầy đủ lời khai trong giai đoạn điều tra nên sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng đã nêu ở trên không làm ảnh hưởng đến các tình tiết khách quan của vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 291, Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 150 Luật Tư pháp người chưa thành niên, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về căn cứ định tội và định khung hình phạt của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo ổn định, thống nhất, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/8/2025, các bị cáo Triệu Khánh T4, Mai Anh T2, Lành Anh T cùng các đối tượng Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 đã có hành vi gây sự, chửi bới, ném chai nước vào nhóm anh Bàn Viễn T5, Hoàng Minh N, Tẩn Thành L3, Bồn Văn D3 tại khu vực nhà hàng S thuộc tổ D Q, phường H. Sau đó, cả nhóm Triệu Khánh T4, Mai Anh T2, Lành Anh T, Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 về quán bi-a T10 mang theo 01 mã tấu, 01 đao đi trên 02 xe mô tô khoảng 03Km đến cổng ký túc xá trường Cao đẳng K1 thì tiếp tục hò hét, chửi bới, cầm dao đuổi đánh nhóm anh T5, N, L2, D3 nhưng không được, vì nhóm của T5 đã nhẩy tường rào vào túc xá trường Cao đẳng K1. Các bị cáo quay lại chỗ để xe mô tô của nhóm T5, Lành Anh T cầm 01 con dao mang theo chém vào biển kiểm soát xe mô tô của N; Mai Thế V cầm 01 con dao, cùng với Triệu Khánh T4 lao vào đạp đổ xe máy và chém vỡ phần cánh yếm xe mô tô của T5, gây thiệt hại về tài sản giá trị 415.000đ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Điều 318 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

c)………………….”

[5]. Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, cũng như hoạt động bình thường của nhân dân, cơ sở giáo dục trên địa bàn, nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, là khách thể được P1 bảo vệ. Bị cáo Lành Anh T là người khởi xướng, trực tiếp chuẩn bị hung khí, rủ các bị cáo Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 cùng một số đối tượng khác đuổi đánh, chửi nhau, đập phá tài sản vào giữa đêm khuya, phá vỡ trạng thái bình yên, khiến cho cộng đồng dân cư hoang mang, lo sợ, do đó cần phải xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự mới bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét thấy, các bị cáo nhất thời phạm tội, giữa các bị cáo không có sự tổ chức, phân công bàn bạc hay ép buộc nhau thực hiện hành vi phạm tội, không thuộc trường hợp đồng phạm có tổ chức, trong đó bị cáo Lành Anh T và Mai Anh T2 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Do vậy, khi lượng hình cần xem xét đánh giá vai trò của từng bị cáo để đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, đồng thời áp dụng quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo chưa thành niên, cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Như đã nhận định tại đoạn [5], Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Lành Anh T là người khởi xướng, giữ vai trò chính trong vụ án, mặc dù không có sự mâu thuẫn từ trước với nhóm của bị hại N, khi thấy V1 Trần Bảo chửi N, bị cáo cầm chai nước ngọt (chất liệu nhựa dẻo) đang uống dở ném vào đầu của N. Sau đó, bị cáo chủ động nói với các thành viên trong nhóm đi về “lấy đồ”, bị cáo cũng là người trực tiếp chuẩn bị hung khí là 02 con dao để đi tìm nhóm của N gây sự, đánh đấm nhau. Khi dồn đuổi nhóm của N bỏ chạy, nhảy qua tường rào của Trường Cao đẳng K1, Lành Anh T cùng các đối tượng quay lại vị trí nhóm của N để xe mô tô, sau đó có hành vi cầm 01 con dao chém vào biển kiểm soát của N, gây thiệt hại về tài sản 200.000đ. Các bị cáo Mai Anh T2 và Triệu Khánh T4 tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức, trong đó bị cáo Triệu Khánh T4 thời điểm phạm tội đã trên 18 tuổi, sau khi bị rủ rê, lôi kéo, bị cáo không có lời lẽ, hành động khuyên can bạn bè mà còn trực tiếp tham gia điều khiển xe mô tô BKS 23M1 - 182.90, chở đối tượng Mai Thế Võ ngồi giữa và Mai Anh T2 ngồi sau, tham gia đuổi đánh nhóm của N, đạp đổ xe của T5 và cùng đối tượng Mai Thế V gây thiệt hại cho xe mô tô của T5 215.000đ; bị cáo Mai Anh T2 chỉ tham cùng đồng phạm đuổi đánh nhóm của N nhưng không tham gia đập phá tài sản nên cần đánh giá vai trò của bị cáo Triệu Khánh T4 đứng thứ hai trong vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Mai Anh T2 được đánh giá có vai trò thấp nhất trong vụ án.

[7]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho bị hại Hoàng Minh N, số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng); bị hại N và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với số tiền thiệt hại về tài sản của bị hại Bàn Viễn T5, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, sau khi vụ án xảy ra, bản thân bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại T5 đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương nên các bị cáo không thể gặp để thực hiện được nghĩa vụ bồi thường; tại phiên toà các bị cáo xuất trình biên lai đã tự nguyện nộp vào Thi hành án Dân sự tỉnh Tuyên Quang tổng số tiền 300.000đ để bồi thường cho anh T5. Do đó, các bị cáo cùng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2 có ông bà nội là người có công với cách mạng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[9]. Về hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, tại thời điểm xét xử các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2 đều đã thành niên nên không thỏa mãn các điều kiện để được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Tuy nhiên, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lành Anh T được 17 tuổi 11 tháng 14 ngày; bị cáo Mai Anh T2 được 17 tuổi 09 tháng; do đó ngoài các điều khoản của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng Điều 115, Điều 118, Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Lành Anh T và Mai Anh T2, theo nguyên tắc có lợi cho 02 bị cáo. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, trước khi phạm tội các bị cáo đều là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Lành Anh T hiện đang là học sinh lớp 12 Trường THPT L4, bị cáo Mai Anh T2 là sinh viên Trường Đại Học Đ; bị cáo Triệu Khánh T4 là sinh viên trường Đại học M - Hà Nội, nên cần xem xét không xử lý các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, để được tiếp tục tham gia học tập, cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[10]. Việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra: Trong vụ án này, ngoài 03 bị cáo nói trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T còn ra Quyết đinh khởi tố bị can đối với các đối tượng Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 về hành vi “Gây rối trật tự cộng cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Vương Trần B được 16 tuổi 11 tháng 27 ngày; Mai Thế V được 17 tuổi 0 tháng 12 ngày; Hoàng L2 được 17 tuổi 02 tháng 02 ngày. Căn cứ vào tính chất, mức độ và vai trò của từng bị can, ngày 09/03/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã mở phiên họp và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng số 372/QĐ-CSHS đối với bị can Vương Trần B; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng số 373/QĐ-CSHS đối với bị can Mai Thế V và Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng số 374/QĐ-CSHS đối với bị can H3. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với các đối tượng Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 trong vụ án này. Xét thấy, trong giai đoạn điều tra các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 và các đối tượng Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 đều thành khẩn khai báo, không đổ lỗi cho nhau, nên Hội đồng xét xử không triệu tập đối với các đối tượng Vương Trần B, Mai Thế V, Hoàng L2 tham gia phiên toà, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên.

[11]. Về phần bồi thường thiệt hại: Trong vụ án này, các bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản cho anh Hoàng Minh N số tiền 200.000đ; gây thiệt hại về tài sản cho anh Bàn Viễn T5 số tiền 215.000đ. Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo đã liên đới bồi thường xong cho bị hại Hoàng Minh N số tiền 1.000.000đ thiệt hại về tài sản, anh N và gia đình anh N không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bất cứ chi phí nào khác. Xét thấy việc bồi thường đã thực hiện xong, các bên không ai có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với số tiền thiệt hại của anh Bàn Viễn T5 là 215.000đ, tại phiên toàn các bị cáo trình bày do anh T5 và người đại diện hợp pháp của anh T5 không có mặt tại địa phương nên các bị cáo không thực hiện được nghĩa vụ bồi thường; trước khi mở phiên toà các bị cáo đã tự nguyện nhờ gia đình nộp tại Thi hành án Dân sự tỉnh Tuyên Quang tổng số tiền 300.000đ (mỗi bị cáo nộp 100.000đ) để bồi thường cho anh T5. Xét thấy, số tiền các bị cáo tự nguyện bồi thường lớn hơn số tiền thiệt hại của bị hại T5 nên cần xác định việc bồi thường đã thực hiện xong và được Hội đồng xét xử ghi nhận trong Bản án, theo đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Lành Anh T.

[12]. Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 con dao bằng kim loại, có kích thước khác nhau. Xét thấy, các bị cáo sử dụng 02 con dao khi thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên đến nay không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[13]. Đối với hành vi đập phá xe mô tô của các bị cáo Lành Anh T, Triệu Khánh T4, ngày 18/12/2025 Phòng K2 Công an tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[14]. Đối với chị Đoàn Thị D1 và bà Mùng Thị K: Quá trình điều tra xác định, các bị cáo Lành Anh T và Mai Anh T2 đã tự ý sử dụng xe mô tô của gia đình để thực hiện hành vi phạm tội, chị D1 và bà K đều không biết, không có lỗi trong việc để các bị cáo sử dụng phương tiện để đi phạm tội, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[15]. Đối với anh Lê Đỗ Q, sinh năm 1987, trú tại tổ A T, phường H, tỉnh Tuyên Quang (chủ quán T10): Quá trình điều tra thể hiện, quán T10 - a của Q hoạt động bình thường đến 22 giờ hàng ngày, bị cáo Lành Anh T làm nhân và xin ngủ lại trông quán nên việc Lành Anh T cùng các đối tượng tham gia gây rối trật tự công cộng và chơi Bi - a thâu đêm, anh Q không biết, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Q là có căn cứ. [16]. Đối với các hành vi của các bị cáo Triệu Khánh T4, Lành Anh T, Mai Anh T2 không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển tài liệu và đề nghị Phòng C4 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ. [17]. Đối với hành vi các bị cáo sử dụng 02 con dao trong quá trình gây rối trật tự công cộng, căn cứ kết luận giám định số 1300/KL-KTHS ngày 10/10/2025, Phòng K2, Công an tỉnh T kết luận là mã tấu và đao, thuộc danh mục vũ khí thô sơ, được quy định tại phụ lục 3, danh mục vũ khí thô sơ, ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C3. Tuy nhiên, hành vi sử dụng hung khí hung khí có tính sát thương cao để đập phá tài sản trong quá trình gây rối trật tự công cộng thỏa mãn yếu tố định khung tăng nặng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, do đó các bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về T7 sử dụng vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự.

[18]. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết tội, không thuộc đối tượng được miễn án phí nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo quy định của pháp luật.

[19]. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang; người bào chữa cho các bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[20]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lành Anh T; xử phạt bị cáo Lành Anh T 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Triệu Khánh T4; xử phạt bị cáo Triệu Khánh T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Giao các bị cáo Lành Anh T, Triệu Khánh T4 cho UBND phường H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm b khoản 2 khoản Điều 318; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên; xử phạt bị cáo Mai Anh T2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Mai Anh T2 cho UBND Phường H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND phường H nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Không khấu trừ thu nhập của các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 587, Điều 589 Bộ luật Dân sự;

- Buộc các bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phải liên đới bồi thường cho bị hại Bàn Viễn T5 số tiền 215.000đ (hai trăm mười lăm nghìn đồng).

- Ghi nhận các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang tổng số tiền 300.000đ, để bồi thường cho anh T5, trong đó mỗi bị cáo bồi thường cho anh T5 100.000đ, cụ thể như sau: + Bị cáo Lành Anh T nộp số tiền bồi thường cho anh T5 100.000đ, theo Biên lai thu số 0000290, ngày 18/5/2026; + Bị cáo Mai Anh T2 nộp số tiền bồi thường cho anh T5 100.000đ, theo Biên lai thu số 0000289, ngày 18/5/2026; + Bị cáo Triệu Khánh T4 nộp số tiền bồi thường cho anh T5 100.000đ, theo Biên lai thu số 0000291, ngày 18/5/2026.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng mang dấu vết tội phạm nhưng không còn giá trị sử dụng gồm: 02 con dao, trong đó 01 con dao bằng kim loại có kích thước dài 52,5cm, rộng 04cm, một lưỡi sắc; 01 con dao bằng kim hoại có kích thước dài 53cm, rộng 5,5cm.

(Như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang, ngày 21/4/2026).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc mỗi bị cáo Lành Anh T, Mai Anh T2, Triệu Khánh T4 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm..

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND t.Tuyên Quang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND t.Tuyên Quang;

- VKSND KV4;

- PC01; PV06;

- Các bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

ĐÃ KÝ

- UBND P. Hà Giang 2;

- Lưu hồ sơ.

Vương Thị Thu Hà

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khương Thị Thu - Trương Thế Dương

Vương Thị Thu Hà

Đặc biệt những năm trở lại đây, thành phố Hà Giang cũ, nay là phường Hà Giang 1 và phường Hà Giang 2 là điểm dừng chân của nhiều du khách trong và ngoài nước, Hà Giang được biết đến không chỉ bởi cảnh đẹp tự nhiên được tạo hoá ban cho, mà du khách bốn phương còn nhắc tới Hà Giang bởi sự thân thiện, hiếu khách, mộc mạc của người dân.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Phượng - Triệu Thị Liên

Vương Thị Thu Hà

Cỡ chữ