- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo G về tội trộm cắp - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn G phạm tội “Tội trộm căp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 32 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HS-ST Ngày: 28/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Trần Thị Nhung.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""
1. Bà Ngô Thị Tám.
2. Ông Nguyễn Thanh Phương.
Thư"ký"phiên"tòa: Bà Võ Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"khu"vực"13"-"Cần"Thơ"gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Tấn G (Tên gọi khác không); sinh ngày 01/01/1986, tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông Lê Tấn P, sinh năm: 1945 (Sống) và bà Nguyễn Thị U, sinh năm: 1950 (Chết); Anh, chị, em: Có 06 anh, chị, em lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1994;
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: 02 lần.
+ Tại Bản án hình sự sở thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Tấn G 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 28/3/2022, buộc nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo chấp hành xong hình phạt.
+ Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT ngày 17/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Tấn G 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 23/8/2022, buộc nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm và án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Bị can Giàu đã chấp xong hình phạt tù ngày 23/5/2023, nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm ngày 15/3/2023
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 09/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Tấn G 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 23/01/2024, buộc nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị can Giàu đã chấp xong hình phạt tù ngày 23/01/2025, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/8/2025
- Bị cáo Lê Tấn G bị quả tang và tạm giữ từ ngày 01/01/2026 đến ngày 06/01/2026 khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay.
- Về nhân thân:
Ngày 05/3/2021, Lê Tấn G bị Ủy ban Công an thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-"Bị"hại:""
1/"Bùi Thị P; sinh năm: 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ
2/ Nguyễn Thị N; sinh năm: 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ
-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
1/ Trần Tấn Đ; sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ
2/ Trần Tấn E; sinh năm: 1969 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ
-"Người"làm"chứng:"Lê Tấn P; sinh năm: 1945 (Vắng mặt)"
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Tấn G và đối tượng Trần Tấn Đ, sinh ngày 09/8/1990, ngụ ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân và bia để nhậu, bị cáo G và đối tượng Đ thống nhất điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, biển số 66L8-4364 (biển số giả) chạy xung quanh các tiệm tạp hóa khu vực vòng xoay CD thuộc ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ tìm những tiệm có trưng bày bia không người trông coi để trộm cắp. Trong khoảng thời gian từ ngày 29/12/2025 đến ngày 01/01/2026, bị cáo G và đối tượng Đ đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 29/12/2025, bị cáo Lê Tấn G điều khiển xe mô tô 66L8-4364 chở đối tượng Trần Tấn Đ từ nhà của bị cáo G xuống khu vực vòng xoay CD thuộc ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ tìm địa điểm để trộm bia. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến vòng xoay CD bị cáo G quan sát thấy tiệm tạp hóa TP của bà Bùi Thị P, sinh ngày 01/01/1980 không có người trông coi, bị cáo G liền đậu xe trước cửa tiệm, Đ đi vào bên trong lấy trộm 03 thùng bia Tiger (trong đó 02 thùng Tiger Lager Beer loại 24 lon, thể tích 330ml, 01 thùng Tiger Lager Beer Coolpack loại 24 lon, thể tích 250ml) rồi đem ra xe bị cáo G điều khiển chạy về nhà bị cáo G cùng nhậu.
Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 30/12/2025, bị cáo G điều khiển xe mô tô 66L8-4364 chở Đ từ nhà của bị cáo G xuống chợ CD tìm địa điểm để trộm bia. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đến vòng xoay CD thuộc ấp M, xã H, bị cáo G quan sát thấy tiệm tạp hóa TP của bà Bùi Thi Phụng để bia bên ngoài (hành lang lộ giới) không có người trông coi, bị cáo G đậu xe lại, Đ đi đến vị trí để bia lấy trộm 04 thùng bia Sài Gòn Lager loại 24 Ion, thể tích 330ml rồi đem ra xe bị cáo G điều khiển chở về nhà bị cáo G cùng nhậu.
Vụ thứ ba: Đến khoảng 07 giờ ngày 01/01/2026, đối tượng Trần Tấn Đ điều khiển xe mô tô 66L8-4364 chở Đ từ nhà của bị cáo G xuống chợ CD tìm địa điểm để trộm bia. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đến vòng xoay CD thuộc ấp M, xã H, bị cáo G quan sát thấy tiệm tạp hóa TN của bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/01/1983 có để bia trước cửa tiệm không người trông coi, bị can Giàu đậu xe trước cửa tiệm, đối tượng Đ đi đến vị trí để bia lấy trộm 04 thùng Bia Henineken Coolpack, loại 24 lon, thể tích 250ml đem ra xe bỏ chạy, lúc này bà N phát hiện truy hô cùng mọi người xung quanh đuối theo, bị cáo G điều khiển xe chở đối tượng Đ chạy đến vòng xoay thì va chạm với xe ô tô biển số kiểm soát 65A-161.35 do anh Nguyễn Phước A, sinh năm 1983, ngụ khu vực A, phường N điều khiển làm bị cáo G, đối tượng Đ và xe té ngã xuống đường, sau đó bị cáo G và đối tượng Đ bị Công an xã Hiệp Hưng bắt quả tang cùng tang vật.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma tuý ngày 01/01/2026 tại Công an xã Hiệp Hưng, thành phố Cần Thơ xác định Lê Tấn G dương tính chất ma tuý, loại Heroin (BL 112)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Hưng, kết luận:
- 02 thùng Bia Tiger Lager Beer, loại 24 lon, thể tích 330ml, thời điểm định giá ngày 29/12/2025 có giá 680.000đ.
- 01 thùng Bia Tiger Lager Beer Coolpack, loại 24 lon, thể tích 250ml, thời điểm định giá ngày 29/12/2025 có giá 270.000đ.
- 04 thùng Bia Sài Gòn Lager, loại 24 lon, thể tích 330ml, thời điểm định giá ngày 30/12/2025 có giá 1.016.000đ
- 04 thùng Bia Henineken Coolpack, loại 24 lon, thể tích 250ml, thời điểm định giá ngày 01/01/2026 có giá 1.400.000đ.
Tổng giá trị tài sản là 3.366.000đ (BL 32-34).
Như vậy, giá trị tài sản mà bị cáo Lê Tấn G và đổi tượng Trần Tấn Đ trộm cắp vào ngày 29/12/2025 là 950.000đ, ngày 30/12/2025 là 1.016.000đ và ngày 01/01/2026 là 1.400.000đ.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-KV13 ngày 24/4/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 truy tố bị cáo Lê Tấn G về Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Tấn G và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Tấn G phạm Tội trộm cắp tài sản. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 32, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tấn G từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo G thừa nhân hành vi phạm tội của mình. Trong phần tranh luận bị cáo không có tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo G xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tấn G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 29/12/2025, 30/12/2025 và 01/01/2026, bị cáo Lê Tấn G cùng đối tượng Trần Tấn Đ đã bàn bạc, thống nhất thực hiện hành vi trộm cắp bia tại các tiệm tạp hóa khu vực vòng xoay CD thuộc xã Hiệp Hưng, thành phố Cần Thơ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.366.000 đồng.
Mặc dù giá trị tài sản chiếm đoạt trong từng lần đều dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo G có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Tấn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì động cơ vụ lợi và để có tiền tiêu xài, nhậu nhẹt, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 03 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà ngoại được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Thị P đã nhận đủ số tiền bồi thường 1.966.000 đồng và không yêu cầu gì thêm; bị hại Nguyễn Thị N không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo Lê Tấn G phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại các tài sản, đồ vật cho các bị hại và chủ sở hữu hợp pháp (gồm ông Lê Tấn P, ông Trần Tấn Đ, ông Trần Văn Điệp, ông Trần Tấn E) đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
. Đối với đối tượng Trần Tấn Đ cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo G, Cơ quan điều tra đã xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn G phạm tội “Tội trộm căp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 32, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang và tạm giữ là ngày 01/01/2026
2. Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại các tài sản, đồ vật cho các bị hại và chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tấn G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo Bản án: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. *Nơi!nhận:
| - Sở tư pháp thành phố Cần Thơ; - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 13 – Cần Thơ; - Công an thành phố Cần Thơ; - Phân trại tạm giang KV Phụng Hiệp; - Phòng THADS Khu vực 13 – Cần Thơ; - Cơ quan THADS thành phố Cần Thơ - Bi cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung |