- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị L - Vũ Duy H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lường Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Vũ Duy H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM KHU VỰC 4 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 4 - 2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm;
Ông Phạm Văn Hay
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 -Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2025/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lường Thị L - sinh năm: 1993; Có đơn xét xử vắng mặt
Số căn cước: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Khu phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Vũ Duy H - sinh năm: 1988; Có mặt
Số căn cước: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Khu phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lường Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H tự nguyện kết hôn với nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã S (N là phường S), tỉnh Thanh Hóa năm 2012. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2024 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung khiến vợ chồng thường xuyên cải vã. Từ tháng 7 năm 2025, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa, tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Nay xét thấy không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị L được giải quyết ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung, là cháu Vũ Duy P - sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vũ Duy Đ – sinh ngày 20/11/2012. Nay chị L đề nghị giao cháu P và cháu Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị L có nghĩa vụ cấp cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu, hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3 năm 2026 đến khi cháu P và cháu Đ thành niên.
Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Đối với bị đơn anh Vũ Duy H trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị L trình bày là hoàn toàn đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng cãi vã, nay chị L đề nghị được ly hôn anh thì anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái cho tốt, nếu chị L vẫn cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Về con cái, anh H cũng đồng ý như lời trình bày của chị L, nay vợ chồng ly hôn anh đề nghị được nuôi cả 02 cháu Vũ Duy P và Vũ Duy Đ và đồng ý chị L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu, hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3 năm 2026 đến khi cháu P và cháu Đ thành niên. Về tài sản và công nợ chung anh H không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 –Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xử cho chị L được ly hôn với anh H.
Về yêu cầu nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nguyện vọng của đương sự và nguyện vọng của con để giao con theo quy định, cần giao cháu Vũ Duy P và cháu Vũ Duy Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và buộc chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu, hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3 năm 2026 đến khi cháu P và cháu Đ thành niên.
Về tài sản, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Lường Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng định kỳ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa có đủ cơ sở nhận định.
. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do bị đơn anh Vũ Duy H có nơi cư trú tại phường S, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 là đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 Nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; điểm b khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lường Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H kết hôn với nhau được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả anh và chị không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.
. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không còn hợp nhau về tính tình, thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của chị L là có căn cứ chấp nhận, vì thực trạng anh, chị không còn tình cảm với nhau. Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của Kiểm sát viên, cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Vũ Duy H là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
. Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung, là cháu Vũ Duy P - sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vũ Duy Đ – sinh ngày 20/11/2012. Nay chị L đề nghị giao cháu P và cháu Đ cho anh Vũ Duy H trực tiếp nuôi dưỡng và chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu, hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3 năm 2026 đến khi cháu P và cháu Đ thành niên.
Xét thấy việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng có quyền này. Nguyện vọng của chị L là giao anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P và cháu Đ; Cháu P và cháu Đ lâu nay đang ở với anh H và có nguyện vọng được ở với anh H và đây cũng là nguyện vọng của anh H nên cần giao 02 cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, về nguyện vọng giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng của chị L là phù hợp và có căn cứ. Cần giao cháu P và cháu Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Việc cấp dưỡng nuôi con của cha mẹ đối với con cái sau ly hôn là nghĩa vụ chung, bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng một phần cho bên nuôi con. Tuy nhiên mức cấp dưỡng phải phù hợp đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho con và người cấp dưỡng, chị L có nguyện vọng cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/cháu, hai cháu là 4.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 3 năm 2026 cho đến khi các cháu thành niên. Xét đây là ý chí tự nguyện của chị L và được anh H đồng ý nên cần được chấp nhận.
.Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng chị Lường Thị L phải chịu theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. (ban hành kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lường Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Vũ Duy H.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Lường Thị L được ly hôn với anh Vũ Duy H;
Về con chung: Giao cháu Vũ Duy P và cháu Vũ Duy Đ cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Chị L có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung, mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu, hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng kể từ tháng 3 năm 2026 cho đến khi các cháu thành niên.
Về tài sản, công nợ chung: Không xem xét.
Về án phí: Chị Lường Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001934 ngày 20/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị L còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
Án xử công khai, anh Vũ Duy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lường Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 4 – Thanh Hóa; - UBND phường Sầm Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hùng |