vanban.org

Bản án 31/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị K;

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Hồ Thị K được ly hôn với bị đơn Huỳnh Bảo N. Về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021 cho nguyên đơn Hồ Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Khen - Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị K;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26/02/2026
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Lê Thị Đông Nguyệt;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Vũ Trang Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Tâm– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 246/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị K, sinh năm 1988; Trú tại: Hẻm T, khu phố P, Phường P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt và có Đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Bảo N, sinh năm 1982; Trú tại: A N, khu phố P, Phường P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và Đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn Hồ Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị K và ông Huỳnh Bảo N tự nguyện tìm hiểu và đi đến đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày 11/5/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì sau đó liên tục phát sinh nhiều mâu thuẫn liên quan đến quan điểm sống. Ông N không chăm lo cho gia đình, hay hô hét quát mắng vợ con. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng giải quyết tranh chấp nhưng không được và sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau. Nay bà Hồ Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Bảo N để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và cháu Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021. Ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai con vì các con chung đang ở với nguyên đơn và không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Huỳnh Bảo N vắng mặt nên không có lời trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Hồ Thị K được ly hôn ông Huỳnh Bảo N; Về con chung: Giao hai con chung tên Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và cháu Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021 cho nguyên đơn Hồ Thị K nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: không giải quyết; Về án phí: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại phường P, tỉnh Đắk Lắk nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk thụ lý thuộc thẩm quyền.

Việc giải quyết theo thủ tục vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có Đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Hồ Thị K và bị đơn Huỳnh Bảo N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày 11/5/2017 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong đời sống hàng ngày nên vợ chồng thường kình cãi và không có tiếng nói chung. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài làm cho các bên càng bế tắc. Nguyên đơn đã cố gắng hoà giải để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng không thành nên tình cảm vợ chồng đã phai nhạt và không ai còn quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn Hồ Thị K yêu cầu ly hôn với bị đơn Huỳnh Bảo N là chính đáng, có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Hồ Thị K được ly hôn với bị đơn Huỳnh Bảo N.

Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung là Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và cháu Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021. Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là phù hợp với nguyện vọng của con chung, đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt và ổn định tâm sinh lý con chung sau ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao hai con chung Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và cháu Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021 cho nguyên đơn trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

+ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

+ Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị K;

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Hồ Thị K được ly hôn với bị đơn Huỳnh Bảo N.

Về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Hồ Bích L, sinh ngày 24/11/2019 và Huỳnh Hữu T, sinh ngày 25/10/2021 cho nguyên đơn Hồ Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004199 ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ