- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà Bùi Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST Ngày: 22-5-2026 V/v: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tụ, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoà Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 135/2026/TLST - HNGĐ, ngày 16 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2026, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1994.
Trú tại: Xóm 3, xã B, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Thái P, sinh năm 1993.
Trú tại: Thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk, xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Bùi Thị T trình bày:
Bà T và ông P trước đây là vợ chồng sau đó đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 617/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/11/2024 của Toà án nhân dân TP Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trong quyết định thuận tình ly hôn bà T và ông P thoả thuận: Ông Trần Thái P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019. Tuy nhiên, từ ngày 04/11/2024 đến nay ông P không trực tiếp nuôi dưỡng cháu N mà gửi cho bà nội là Lê Thị H ở thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk nuôi dưỡng, ông P hiện nay đi làm ăn xa. Mặt khác, hiện nay bà T đã có kinh tế ổn định, đang làm nhân viên Công ty Unipen, thu nhập bình quân mỗi tháng là 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Do đó, bà T có nguyện vọng được thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể: Giao con chung cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019 cho bà Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Thái P trình bày:
Ông P và và T trước đây là vợ chồng sau đó đã ly hôn. Trong quyết định ly hôn đã giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019 cho ông P trực tiếp chăn sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh nên ông P phải đi làm ăn xa, ông P đã giao cháu N cho bà nội là Lê Thị H nuôi dưỡng. Hiện nay, bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N thì ông P đồng ý giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Do điều kiện làm ăn ở xa nên ông P xin từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà Bùi Thị T.
Giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019 cho bà Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Bùi Thị T, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện thay đổi người nuôi con, bị đơn có nơi cư trú tại xã E, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 617/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/11/2024 của Toà án nhân dân TP Thuận An, tỉnh Bình Dương, bà T và ông P thoả thuận: Ông Trần Thái P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019. Sau khi ly hôn, cháu N sinh sống cùng với bà nội Lê Thị H tại thôn 5, xã E.
Xét thấy, tại bản tự khai của ông P và bà H là mẹ ông P đều thừa nhận, sau khi bà T và ông P ly hôn, ông P phải đi làm ăn xa, ông P đã giao cháu N cho bà nội là Lê Thị H nuôi dưỡng. Hiện nay ông P không trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Mặt khác, cháu N là con gái đang trong giai đoạn trưởng thành cần sự quan tâm gần gũi chia sẻ từ phía người mẹ, đồng thời ông P cũng đồng ý giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, việc bà T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu N là phù hợp với lợi ích của con và có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81, điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Bùi Thị T phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà Bùi Thị T.
Giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/12/2019 cho bà Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Ông Trần Thái P được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Trần Thái P không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002428 ngày 11/3/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4- Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Huyền Trang |