vanban.org

Bản án 31/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.

Buộc: ông Lê Văn L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 13/02/2026 bằng 73.132.231đồng (Bảy mươi ba triệu một trăm ba mươi hai ngàn hai trăm ba mươi mốt đồng) (trong đó, nợ gốc 18.689.599đồng, lãi 20.140.279đồng và phí phát sinh 34.302.353đồng). Kể từ ngày Ngân hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K - Lê Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/DS-ST
Ngày: 13-2-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Đào

Ông Võ Văn Liềm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2026/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K;

Trụ sở: 4 P, phường R, tỉnh A.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M; Chức vụ: Chủ Tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc M: ông Lê Trung V - Chức vụ: Giám đốc Văn phòng đại diện tại TP. H.

Người đại diện theo uỷ quyền lại của ông Lê Trung V: ông Nguyễn Hòa H, sinh năm 1998 – Chuyên viên xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ (có mặt)

- Bị đơn: ông Lê Văn L, sinh năm 1998 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2025 của Ngân hàng TMCP K và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là ông Nguyễn Hòa H trình bày:

Căn cứ đề nghị của ông Lê Văn L, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K - Phòng G đã tiến hành cấp tín dụng cho ông Lê Văn L ngày 13/3/2018, cụ thể như sau:

+ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K1 số hợp đồng 2001807100030 ngày 13/3/2018, người sử dụng là ông Lê Văn L;

+ Hạn mức mỗi thẻ tín dụng: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng);

+ Loại thẻ: V1;

+ Lãi suất trong hạn: 22%/năm;

+ Phí phạt chậm trả: 3,5% x số tiền chậm trả;

+ Phí phạt vượt hạn mức: 0,075%/ngày;

- Giữa Ngân hàng và ông L không có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo nào.

Tính đến ngày 12/6/2024 ông L đã vi phạm thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng và phát sinh quá hạn. Ngân hàng K – Phòng G, TP C. đã nhiều lần gọi điện, gửi thông báo nhắc nợ cho ông L nhiều lần nhưng ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cố tình không hợp tác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng mới khởi kiện ông L đến Tòa án. Ông L nợ gốc và lãi thẻ tín dụng tính đến ngày 13/02/2026 tổng cộng bằng 73.132.231đồng (có bảng kê kèm theo), trong đó:

+ Nợ gốc: 18.689.599đồng

+ Lãi phát sinh: 20.140.279đồng

+ Phí phát sinh: 34.302.353đồng

Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K là ông Nguyễn Hòa H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 13/02/2026 bằng 73.132.231đồng (trong đó, nợ gốc 18.689.599đồng, lãi 20.140.279đồng và phí phát sinh 34.302.353đồng) và các khoản lãi phát sinh thẻ tín dụng số 20018071000030 cho đến ngày thực tế ông L trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Ngoài ra, ông H không trình bày và yêu cầu gì thêm.

* Đối với bị đơn ông Lê Văn L không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng ông L không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải quyết. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước tiến hành tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K buộc ông Lê Văn L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 13/02/2026 bằng 73.132.231đồng (trong đó, nợ gốc 18.689.599đồng, lãi 20.140.279đồng và phí phát sinh 34.302.353đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP K khởi kiện ông Lê Văn L đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông L phải thanh toán nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết vì ông L đã vi phạm thời hạn trả nợ. Bị đơn ông Lê Văn L có địa chỉ tại ấp H, xã Đ, tỉnh A nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông L với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về nội dung: Vào ngày 13/3/2018, Ngân hàng TMCP K có thống nhất cấp Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K số hợp đồng 2001807100030 ngày 13/3/2018 cho ông Lê Văn L, hạn mức số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Trong thời gian thực hiện hợp đồng đến ngày 12/6/2024 ông L đã vi phạm quy định sử dụng thẻ làm phát sinh nợ gốc và nợ lãi thẻ quá hạn và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 13/02/2026 bằng 73.132.231đồng (trong đó, nợ gốc 18.689.599đồng, lãi 20.140.279đồng và phí phát sinh 34.302.353đồng).

Xét đề xuất cấp thẻ tín dụng và bản điều khoản về điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K1 số hợp đồng 2001807100030 ngày 13/3/2018 thì xác định bên ông L không có thế chấp tài sản bảo đảm, nội dung trong hợp đồng được các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, trong thời gian sử dụng thẻ tín dụng thì ông L đã vi phạm làm phát sinh nợ gốc và nợ lãi thẻ quá hạn từ ngày 12/6/2024 đến nay. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với bị đơn ông L đã bỏ địa phương đi đâu không rõ địa chỉ, căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy ông L thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú nhưng ông L cũng thường có về nhà nhưng không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông L theo quy định nhưng anh vẫn không có mặt không có lý do và ông L cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của ông L.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự có giá ngạch: 73.132.231đồng x 5% = 3.656.611 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn sáu trăm mười một đồng) buộc ông L có nghĩa vụ nộp do ông có lỗi trong vụ kiện này.

Ngân hàng TMCP K được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.193.000đồng (Một triệu một trăm chín mươi ba ngàn đồng) theo lai thu số 0006568 ngày 29/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, vì yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 177, Điều 179, điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 463, Điều 466, Điều 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.

Buộc: ông Lê Văn L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 13/02/2026 bằng 73.132.231đồng (Bảy mươi ba triệu một trăm ba mươi hai ngàn hai trăm ba mươi mốt đồng) (trong đó, nợ gốc 18.689.599đồng, lãi 20.140.279đồng và phí phát sinh 34.302.353đồng).

Kể từ ngày Ngân hàng TMCP K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông L chưa thi hành án thì hàng tháng ông L còn phải chịu lãi và phí phát sinh tính từ ngày 14/02/2026 theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K1 số hợp đồng 2001807100030 ngày 13/3/2018 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lê Văn L phải nộp án phí 3.656.611 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn sáu trăm mười một đồng).

Ngân hàng TMCP K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí bằng 1.193.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi ba ngàn đồng) theo lai thu số 0006568 ngày 29/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/02/2026). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ