vanban.org

Bản án 31/2026/DS-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/06/2026 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau.

Hủy Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 143/2026/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau và đình chỉ giải quyết vụ án. 1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn L đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006223, ngày 11/12/2025, tại Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn L-Trịnh Diêm M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/DS-PT
Ngày 24 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 143/2026/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1997; CCCD số 087097015869, cấp ngày 10/5/2021.

Địa chỉ: Ấp D, xã B, tỉnh Đồng Tháp

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn L: Bà Trịnh Thanh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Chị Trịnh Diễm M, sinh năm 2002; CCCD số 095302009600, cấp ngày 15/8/2025.

Người đại diện hợp pháp của chị Trịnh Diễm M: Ông Trịnh Hòa H, sinh năm 1974;

Cùng địa chỉ: Ấp Q, xã A, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Trịnh Diễm M: Bà Nguyễn Thúy O, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thúy O, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.

(Bà T, bà O, ông H có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn L ủy quyền cho bà Trịnh Thanh T trình bày:

Tháng 01/2025 giữa anh Nguyễn Văn L và chị Trịnh Diễm M ra Tòa án giải quyết ly hôn, theo bản án số 08/2025/HNGĐ – ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và bản án phúc thẩm số: 23/2025/HNGĐ – PT ngày 19/05/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định cho ly hôn giữa anh L và chị M, về con chung tên Nguyễn Hoài N thì giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, với lý do con chung dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên con chung từ lúc sinh ra cho đến nay do anh L và gia đình anh L trực tiếp nuôi dưỡng, hiện anh L có thu nhập, chỗ ở ổn định đủ điều kiện để tiếp tục nuôi con chung. Vì vậy anh L có yêu cầu thay đổi việc nuôi con, yêu cầu được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hoài N, sinh ngày 10/10/2022, anh L không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra anh L không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn chị Trịnh Diễm M ủy quyền cho ông Trình Hòa H1 trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của anh L về việc ly hôn và quyền nuôi con chung sau khi ly hôn giữa chị M và anh L.

Theo quyết định của bản án số: 08/2025/HNGĐ – ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và bản án phúc thẩm số: 23/2025/HNGĐ – PT ngày 19/05/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết giao con chung tên Nguyễn Hoài N, sinh ngày 10/10/2022 cho chị M nuôi dưỡng. Tuy nhiên, từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay anh L chưa chịu giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M đã nhiều lần có đơn yêu cầu đến Phòng Thi hành án hôn nhân và gia đình Khu vực 11 – Đồng Tháp giải quyết và cũng đã được ra quyết định thi hành án, nhưng đến nay chưa thi hành được, thì nay anh L có đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

Vì vậy chị M yêu cầu Tòa án xem xét giữ nguyên quyền nuôi con của chị M theo bản án số 08/2025/HNGĐ – ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và bản án phúc thẩm số: 23/2025/HNGĐ – PT ngày 19/05/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết, tạo điều kiện cho chị M tiếp tục làm đơn yêu cầu thi hành án, yêu cầu anh L giao con chung tên Nguyễn Hoài N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ngoài ra chị M không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 143/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hôn nhân và gia đình; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L đối với chị Trịnh Diễm M về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Thay đổi quyền nuôi con chung tên Nguyễn Hoài N, sinh ngày 10/10/2022 từ chị Trịnh Diễm M sang cho anh Nguyễn Văn L. Anh Nguyễn Văn L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoài N, sinh ngày 10/10/2022.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08/4/2026, chị Trịnh Diễm M kháng cáo với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.

Ngày 09/4/2026, Viện kiểm sát nhân Khu vực 8 - Cà Mau kháng nghị với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn không có quyền khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự: hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi nghị án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau vẫn giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau. Phía chị Trịnh Diễm M vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo với lý do phía anh Nguyễn Văn L không được Toà án giao nuôi con, bản án hôn nhân có hiệu lực nhưng anh L không giao con là vi phạm việc chấp hành án, anh L cũng không trực tiếp nuôi dưỡng con mà do cha mẹ anh L nuôi dưỡng chăm sóc.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau và kháng cáo của chị Trịnh Diễm M:

Giữa chị Trịnh Diễm M và anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đồng Tháp giải quyết giao cháu Nguyễn Hoài N cho chị Trịnh Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bản án có hiệu lực ngày 19/5/2025. Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn thừa nhận cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án và vận động anh L giao cháu N cho chị M nhưng anh L chưa thực hiện.

Xét, theo Điều 186 Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định, cá nhân có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp này anh Nguyễn Văn L không có quyền được nuôi dưỡng con theo bản án sơ thẩm số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và bản án phúc thẩm số 23/2025/HNGĐ-PT ngày 19/5/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp nên anh L không có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L là chưa đúng theo điều luật nêu trên.

Chị Trịnh Diễm M kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm; kháng nghị số 05/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 09/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau đề nghị hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Như nhận định trên có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau. Đối với kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm của chị Trịnh Diễm M, do chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau, vụ án được đình chỉ giải quyết nên không xem xét yêu cầu sửa án theo yêu cầu kháng cáo của chị M, chị M cũng không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311; điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau.

Hủy Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 143/2026/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau và đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Án phí:

2.1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn L đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006223, ngày 11/12/2025, tại Phòng Thi hành án dân Khu vực 8 – Cà Mau, được nhận lại.

2.2. Án phí phúc thẩm: Chị Trịnh Diễm M đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003972 ngày 08/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được nhận lại.

3. Bản án phúc phẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ