vanban.org

Bản án 31/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HSST
Ngày: 28/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh.

- Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Thơ, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên tham gia phiên toà: ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn, thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-QĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với:

Bị cáo Lê Việt A, sinh năm 1997, nơi cư trú: thôn N, xã T, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Lê Văn H và con bà Trương Thị L; vợ: Lê Thị T; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/09/2025 đến ngày 06/9/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: ông Chu Văn Q, sinh năm 1980, trú tại: thôn P, xã Đ, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

Người chứng kiến: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984, trú tại: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ nên khoảng 21 giờ ngày 01/9/2025, Lê Việt A đã sử dụng tài khoản Facebook là “Lê Việt A” tìm mua pháo, thì một người không biết tên, tuổi, địa chỉ có Facebook là ‘Nguyễn T” giới thiệu có pháo nổ bán. Sau đó người ngày sử dụng Zalo có tên “Nguyễn Tuấn T” kết bạn và nhắn tin Zalo với tài khoản Zalo có tên “Việt A” của Việt A để thỏa thuận việc mua bán pháo. Sau khi thỏa thuận, Việt A mua của người này hai giàn pháo hoa nổ 36 quả với giá 700.000 đồng/giàn và 02 giàn pháo hoa nổ 49 quả với giá 900.000 đồng/giàn và hẹn giao hàng tại địa phận thôn P, xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 19 giờ ngày 03/9/2025, Việt A đi taxi đến địa điểm trên và gặp một người đàn ông đeo khẩu trang không biết tên, tuổi, địa chỉ. Theo chỉ dẫn của người đàn ông trên Việt A đi vào khu vực chân đê, tại đây người đàn ông chỉ vào thùng giấy để bên đường và nói ‘Thùng pháo ở kia”. Việt A đang bê thùng pháo, thì bị Công an xã Đức Hợp kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 thùng catton bên trong có hai hộp hình trụ vuông có in hoa văn và chữ nước ngoài, kích thước mỗi hộp (17 x 17,5 x 14,5)cm và 02 hộp hình trụ vuông có in hoa văn và chữ nước ngoài. Kích thước mỗi hộp (16,5 x 13,5 x 15)cm và một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng.

Lê Việt A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận giám định số 1097/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận 04 hộp hình trụ vuông có hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong thùng catton là pháo nổ, tổng khối lượng là 7,2kg. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết để thực hiện giám định nên không hoàn trả.

Đối với người nam thanh niên đã bán pháo nổ cho Việt A, do Việt A khai không biết họ, tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên (dưới đây viết tắt là: Cơ quan điều tra), không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Người đàn ông lái xe taxi, Việt A không nhớ biển số xe và không nói cho người này biết về việc đi mua pháo nổ về để sử dụng nên không có căn cứ xác minh, xử lý.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 04/QĐ-VKSKĐ ngày 15/10/2025,Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên, truy tố Lê Việt A về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Việt A về tội “Tàng trữ hàng cấm” và đề nghị Toà án áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Lê Việt A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt: Lê Việt A từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu vàng của bị cáo Việt A.

- Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, người chứng kiến, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, Kết luận giám định số 1097/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận 04 hộp hình trụ vuông có hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong thùng catton là pháo nổ, tổng khối lượng là 7,2 kg. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ nên khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 03/9/2025, Lê Việt A đang có hành vi bê thùng giấy bên trong có chứa 7,2 kg pháo hoa nổ thì bị bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ pháo nổ của bị cáo thuộc trường hợp danh mục hàng cấm được Nhà nước cấm tàng trữ. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người nam thanh niên đã bán pháo cho Việt A và người chở Việt Anh đến địa điểm giao nhận pháo hoa nổ. Do Việt A khai không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ của những người này và không nhớ biển số xe ô tô nên không có căn cứ xử lý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ, thể hiện sự coi thường pháp luật gây mất trật tự trị an tại địa phương gây lo lắng, bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đó là: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt.

[4] Về hình phạt: căn cứ vào nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tội phạm, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng (đã cũ), xác định là tài sản của Việt A, Việt A đã sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, do đó tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[6]. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Lê Việt A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Lê Việt A số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng (đã cũ) của Lê Việt A.

(Đặc điểm vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh Hưng Yên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hưng Yên ngày 21/10/2025).

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ