- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn P + Quàng Văn D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? luật dân sự tuyên; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HSST Ngày: 15/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ngọc Phương.
Ông Hoàng Trung Trọng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/11/2024, 08/01/2025 và 15/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS ngày 22/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/HSST-QĐ ngày 05/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/HSST-QĐ ngày 12/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 26/11/2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 02/2024/TB-TA ngày 25/12/2024 đối với các bị cáo:
1. Quàng Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư tr : Bản N, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt; Trình đ học v n: 5/12; Dân t c: Thái; iới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn L, sinh năm: 1977 và bà Cà Thị H, sinh năm: 1976; Bị cáo có vợ: Cà Thị D, sinh năm: 1996 và 02 con lớn 12 tuổi, nhỏ 10 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo b t, tạm gi , tạm giam t ngày 05/7/2024 cho đến nay, có m t.
2. Quàng Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998 tại xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư tr : Bản N, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt; Trình đ học v n: 9/12; Dân t c: Thái; iới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn L, sinh năm: 1977 và bà Cà Thị H, sinh năm: 1976; Bị cáo có vợ: Lò Thị K, sinh năm: 2002 và 02 con lớn 5 tuổi nhỏ 4 tuổi; Tiền án : Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn ch n c m đi khỏi nơi cư tr , có m t.
* Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn P: Ông Điêu Chính Tùng - Trợ gi p viên thực hiện trợ gi p pháp lý của Trung tâm Trợ gi p pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La, có m t.
* Bị hại:
1. Anh Quàng Văn L; Sinh năm: 1994; Nơi cư tr : Bản Lọng Cu, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt, v ng m t.
2. Anh Lò Văn B; Sinh năm: 1996; Nơi cư tr : Bản N, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt, v ng m t.
* Giám định viên: Ông Trần Văn Bình - Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Sơn La, v ng m t.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Đồng thời là người làm chứng): Chị Lường Thị N; Sinh năm: 1999; Nơi cư tr : Bản B, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt, v ng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ph t, ngày 20/01/2024, Quàng Văn P cùng với em trai ru t là Quàng Văn D ng i uống bia tại quán chị Lường Thị N tại ngã ba bản B, xã B, huyện Thuận Châu. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P và D di chuyển sang quán bia nhà chị Lò Thị Chiêng (cách quán nhà chị Lường Thị N khoảng 30 mét) thì g p anh Quàng Văn L và Lò Văn B. Tiếp đó, P và D ng i uống bia với anh L và anh B m t lúc thì P đứng dậy trước điều khiển xe mô tô của P đi mua xăng, còn D, anh L và anh B vẫn ng i uống bia với nhau. Mua xăng xong, P quay lại thì th y D đang ng i uống bia với anh L và anh B ở bên quán nhà chị Nh t nên đi vào quán bảo D về. Lúc này anh L rót cho P m t cốc bia bảo P mời mọi người m t cốc r i về. P đ ng ý, đang cầm cốc bia mời mọi người thì Quàng Văn D, sinh năm 1991, tr tại bản L, xã B, huyện Thuận Châu đi xe mô tô đến (trước đó, D đã ngồi uống bia với L và B trước khi P và D đến). Do đứng phía sau nên anh D không th y được m t P và nhầm tưởng P là anh L nên anh D đi đến đứng bên phải và tát đùa m t cái vào má P. P quay người sang hỏi anh D “Sao anh lại tát tôi” thì anh D trả lời “Tao tưởng mày là thằng L”. Do bực tức nên P dùng tay trái tát m t phát vào m t anh D và cầm cốc bia bằng nhựa trên tay phải đập m t phát tr ng vào đầu anh D. Th y vậy, D đứng dậy kéo anh D ra ngoài và bảo anh D đi về. Anh L đang ng i, th y D kéo anh D ra ngoài đã hiểu nhầm D đánh anh D nên đứng dậy chạy lại túm cổ áo D và nói “Mày đánh bạn tao à”. D cũng dùng tay t m cổ áo anh L nhưng không nói gì, sau đó cả hai giằng co và kéo nhau ra ngoài đường. P th y vậy nói lại với anh L “D nó không đánh, người đánh là tao” đ ng thời cầm chìa khóa trên tay lao vào đ m, chọc nhiều phát trúng vào m t anh L. D cũng dùng tay đ m vào người, vào m t anh L nhiều phát. Anh B th y anh L bị P và D đánh nên cũng lao vào gi p anh L đánh lại P và D. Anh B dùng tay đ m vào người, m t P và D. Lúc này, cả bốn người đánh nhau. P dùng chìa khóa xe mô tô đâm, chọc nhiều phát trúng vào m t anh L và anh B, D dùng tay đ m anh L và anh B, anh L và anh B dùng tay đánh vào m t, người P và D. Sau đó, bốn người tách ra, P đánh nhau với anh B, còn anh L đánh nhau với D. Th y anh L bị D đánh ngã trên m t đường nên P nh t m t viên gạch bên lề đường loại gạch đ t nung đỏ chạy đến đập m t phát trúng vào đầu anh L. Sau đó, nhiều người dân đến can nên bốn người d ng đánh nhau, r i P và D đi về nhà. Còn anh L và anh B được đưa đi khám tại Bệnh viện đa khoa cu c sống tỉnh Sơn La.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám hiện trường; thu gi vật chứng L quan và trưng cầu giám định thương tích:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường phù hợp với lời khai của các đối tượng, người chứng kiến. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành tạm gi vật chứng, g m:
- 01 viên gạch màu đỏ, bị vỡ mép đầu, làm bằng đ t nung dùng để xây nhà. Viên gạch có chiều dài 20,0 cm, chiều r ng 10,0 cm, dày 5,0 cm, khối lượng 1,6kg là vật chứng Quàng Văn P sử dụng để đánh, gây thương tích cho L.
- 01 chiếc cốc bằng nhựa, màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0 cm, đường kính đáy cốc 6,0 cm, cốc cao 12,0 cm là vật chứng Quàng Văn P sử dụng để đánh Quàng Văn D.
- Đối với chiếc chìa khóa xe mô tô theo P khai nhận có đ c điểm dài khoảng 5,0cm, cán chìa khóa bằng nhựa cứng màu đen, thân chìa khóa bằng kim loại, dình dạng dẹt, có hình dạng răng cưa hai bên. P sử dụng để đánh gây thương tích cho L và B nhưng bị rơi tại khu vực hiện trường. Kết quả truy tìm vật chứng không phát hiện chiếc chìa khóa như trên. Ngày 05/6/2024, tại Công an huyện Thuận Châu, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Quàng Văn P nhận dạng hình ảnh đối với 05 loại chiếc chìa khóa mô tô, xe máy khác nhau, P đã nhìn trực tiếp và chỉ ra 01 chiếc chìa khóa xe mô tô dài khoảng 05 cm, cán nhựa màu đen, thân chìa bằng kim loại dẹt và có răng cưa hai bên giống với đ c điểm chiếc chìa khóa mà P sử dụng để gây thương tích.
* Kết quả trưng cầu giám định thương tích:
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 45/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Quàng Văn L tại thời điểm giám định là 23%”. Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Quàng Văn L là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 46/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lò Văn B tại thời điểm giám định là 19%”. Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Lò Văn B là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 96/KLTTCT-TTPY ngày 01/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Quàng Văn D tại thời điểm giám định là 03%”. Cơ chế hình thành thương tích vùng m t của Quàng Văn D là do tác đ ng của vật tày, cứng gây nên.
Đối với hành vi của Quàng Văn P: P đã có hành vi dùng chìa khóa xe mô tô, thân chìa bằng kim loại, hình dạng dẹt, có răng cưa, mũi chìa nhọn là hung khí nguy hiểm đ m, chọc vào vùng m t của anh Quàng Văn L và anh Lò Văn B, ngoài ra P còn dùng 01 viên gạch loại gạch đ t nung đỏ dùng để xây nhà, kích thước dài 20,0cm, r ng 10,0cm, dày 5,0cm cũng là hung khí nguy hiểm đập m t phát trúng đầu anh Quàng Văn L, quá trình điều tra xác định P nhằm đập vào phần lưng của L nhưng tr ng phần đầu L do L ngã, ng i dậy và cường đ lực đập không mạnh. Hậu quả anh L bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%, trong đó tổn thương vùng đầu xếp 02%, tổn thương vùng m t xếp 21%; Anh B bị thương tích vùng m t với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19%. Do đó, hành vi của Quàng Văn P đủ yếu tố c u thành t i phạm Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự.
Đối với hành vi của Quàng Văn D: Khi th y P t n công anh L, anh D đã có hành vi cùng P dùng tay đánh L tiếp vào người, m t của anh Quàng Văn L và anh Lò Văn B. Việc P đánh anh L và anh B là b t phát không có sự bàn bạc, thống nh t gi a P và D về giới hạn hành vi, hậu quả, đối tượng tác đ ng. Hậu quả xảy ra đến đâu thì P và D phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó. Việc P sử dụng chìa khóa và viên gạch là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh L và anh B là b t phát, D không biết. Do đó, Quàng Văn D , Quàng Văn P phải chịu trách nhiệm về hậu quả chung việc gây thương tích cho anh L và anh B. Quàng Văn D không phải chịu trách nhiệm về việc dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cùng với Quàng Văn P. Hành vi của Quàng Văn D đủ yếu tố c u thành t i phạm Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 B luật hình sự.
*Về trách nhiệm b i thường dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra thì Quàng Văn P, Quàng Văn D đã chủ đ ng thỏa thuận và L đới b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 20.000.000 đ ng, bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 20.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L, Lò Văn B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D.
Tại bản cáo trạng số: 168/CT-VKS-TC ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Quàng Văn P về t i Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự. Đã truy tố Quàng Văn D về t i Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 B luật hình sự.
Ngày 05/11/2024 H i đ ng xét xử Tòa án nhân huyện Thuận Châu hoãn phiên tòa đ ng thời ra Thông báo bổ sung tài liệu chứng cứ số: 06/2024/TB-TA yêu cầu bổ sung các tài liệu chứng cứ sau:
- Tiến hành điều tra làm rõ bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D đánh anh L, anh B ở tư thế như thế nào, vị trí gây thương tích. Có tách biệt được bị cáo nào gây ra vết rách da, xây xước bầm tím hay không. Bị cáo P dùng hung khí đánh t ng bị hại và gây vết thương ở đâu. Bị cáo D dùng tay không đánh đánh t ng bị hại và gây vết thương ở đâu?
- Tiến hành điều tra làm rõ gi a bị cáo Quàng Văn P và bị cáo Quàng Văn D ai là người gây ra đối với thương tích vết xước da, vết bầm tụ máu, vết rách da, xây xước da đối với t ng bị hại.
- Tiến hành điều tra làm rõ bị cáo D chỉ dùng tay không đánh hai bị hại, bị cáo đánh ở cường đ như thế nào có là nguyên nhân gây rách da, xây xước được không?
Để có căn cứ xác định việc gây thương tích của t ng bị cáo cho bị hại, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm Công văn số: 02/2024/CV-TA ngày 16/12/2024 đề nghị Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Sơn La giải thích các Kết luận giám định trên như sau:
- Căn cứ vào n i dung vụ án và Quyết định số: 97/QĐ-ĐTTH ngày 25/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đề nghị Trung tâm pháp y xác định tỷ lệ % thương tích và cơ chế hình thành thương tích kèm theo Biên bản xem xét d u vết trên thân thể bị hại Quàng Văn L, Lò Văn B. Đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La xác định: Tách riêng tỉ lệ gây thương tích của bị cáo Quàng Văn P (dùng hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho bị hại bao nhiêu %? và việc bị cáo Quàng Văn D (dùng tay đánh) gây thương tích cho bị hại Quàng Văn L và Lò Văn B bao nhiêu %?. Trường hợp không thể tính tách được tỷ lệ phần trăm phần gây thương tích của t ng bị cáo thì nêu rõ lý do, căn cứ.
- Theo bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 45/KLTTCT-TTPY và số: 46/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, đều kết luận: Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Quàng Văn L, Lò Văn B „„là do tác động của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên‟‟.
- Bị cáo Quàng Văn D (dùng tay đánh), đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La giải thích rõ việc Quàng Văn D dùng tay đánh có phải là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên hay không?.
Ngày 07/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã có công văn số: 699/VKS - TC trả lời về Kết quả thu thập chứng cứ theo Thông báo yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ của Tòa án như sau:
* Thứ nhất: Hai bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D đánh anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B chủ yếu là ở tư thế đứng, đ ng tác (đấm, đá), riêng bị cáo P dùng (01 chìa khóa xe máy) gây ra thương tích, tổn thương cơ thể ở các vị trí phần đầu, phần m t của anh L, anh B. Cụ thể:
+ Anh Quàng Văn L (tỷ lệ tổn thương cơ thể: 23 %) g m có: 02 vết thương rách da trên đỉnh đầu do bị cáo P dùng gạch đánh tr ng (Khi bị cáo D đánh, vật lộn với anh L thì anh L bị D vật ngã ra đường. Lúc anh L nhổm người dậy thì bị P có nhặt 01 viên gạch bị vỡ mép đầu trên tay chạy đến đập theo hướng từ trên xuống dưới, chéo từ phải qua trái vào phần lưng anh L nhưng lại trúng vào đầu anh L); Trán: 01 vết thương trán phải, 01 vết thương trán trái; 01 vết thương má phải; 01 vết thương sống mũi; 01 vết thương tai phải; 01 vết thương gò má; 02 vết thương má trái. Các vết xây xước trên tai, m t anh L do bị cáo P dùng chìa khóa, dùng tay đánh, đ m và bị cáo D dùng tay đánh, đ m anh L.
+ Anh Lò Văn B (tỷ lệ tổn thương cơ thể: 19 %) g m: Tai: Đỉnh vành tai phải, hốc tai phải, trán đều có vết xây xước da; Vành tai trái, thái dương phải - trái đều có vết xây xước da; M t: hốc m t phải, trái bầm tím, xu t huyết; Mũi: cánh mũi phải xây xước; Miệng: mép môi trái xây xước. Các d u vết trên là do bị cáo P dùng chìa khóa, tay đánh, đ m anh B và bị cáo D dùng tay đánh, đ m anh B.
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (các vết trầy da, xây xước, bầm tím) của anh L, anh B thì đều do các bị cáo P, D gây ra. Còn các vết rách da, vết xây xước của anh L, anh B thì do bị cáo P gây ra nhiều hơn bị cáo D do bị cáo P dùng hung khí (chìa khóa). Tuy nhiên, không thể tách biệt, tính riêng được phần trăm tổn thương của mỗi bị hại cho t ng bị cáo. Bởi vì các bị cáo chỉ nhớ chung chung là gây thương tích phần đầu, phần m t cho các bị hại; các bị cáo, các bị hại đều không nhớ số lần đánh, đ m, tác đ ng qua lại. Các bị cáo cũng không nhớ đã gây ra cho t ng bị hại nh ng vết thương cụ thể, rõ ràng ở đâu, ở b phận, vị trí nào (như: Tai, trán, mắt, mũi, miệng…). Bên cạnh đó, các bị cáo, các bị hại đánh nhau l n x n, đều trong tình trạng say rượu, bia, đầu óc không được tỉnh táo, minh mẫn, không làm chủ được bản thân (cử chỉ, hành động, lời nói…). M t khác, sự việc xảy ra ban đêm, trời tối, ánh sáng đèn điện của quán, của m t số nhà dân hai bên đường thì mờ, yếu, không nhìn th y rõ mọi diễn biến xung quanh. Do vậy, không thể tách riêng thương tích của t ng người nên các bị cáo P, D phải chịu chung về thương tích của anh L, anh B. Ngoài ra, các bị cáo, các bị hại đều nh t trí với kết quả giám định của cơ quan chuyên môn (Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La).
* Thứ hai: Do bị anh Quàng Văn L túm cổ áo, không buông ra nên bị cáo Quàng Văn D đã bực tức, dùng hai tay đ m phần đầu, m t anh L trước. Th y bị cáo D đánh anh L nên anh B lao vào đánh bị cáo D. Th y bị cáo D bị anh B đánh nên bị cáo P lao vào đánh anh B. Hai bên đánh nhau l n x n, hoán đổi vị trí, bị cáo D tiếp tục dùng tay đánh, đ m phần đầu, m t anh B được m t lúc, r i bị cáo D vật l n với L; còn bị cáo P và anh B vật l n nhau, đánh riêng. Sau đó, khi bị cáo D vật anh L ngã ra đường thì anh L ng i dậy thì bị P nh t 01 viên gạch trên lề đường đập vào phần lưng anh L thì lại trúng phần đỉnh đầu anh L. Là phù hợp với các Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can; Biên bản đối ch t gi a các bị cáo và các bị hại; các lời khai người chứng kiến, người biết việc; người có L quan; phù hợp Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đ , bản ảnh hiện trường; Biên bản nhận dạng vật chứng (chìa khóa xe máy) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án.
Bị cáo Quàng Văn P: Tay phải cầm chìa khóa xe máy đâm, chọc l c quơ đi quơ lại theo nhiều chiều hướng khác nhau; lúc thì thẳng, lúc thì t ngang t phải qua trái (và ngược lại), lúc thì t trên xuống dưới (và ngược lại) trúng vào phần m t, phần đầu của anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B nên tạo ra m t số vết rách da, xây xước; còn tay trái của bị cáo P thì đ m trúng vào phần m t, phần đầu anh L,anh B tạo m t số vết bầm tím, sưng nề, tụ máu. Ngoài ra, trong l c đánh anh L, anh L bị ngã trên m t đường thì bị cáo P có nh t 01 viên gạch vỡ m t góc đập vào phần lưng anh L nhưng do anh L đứng dậy nên viên gạch đã tr ng phần đầu anh L với lực không mạnh, chỉ để lại tỷ lệ thương tích 02 %. Nh ng d u vết trên là phù hợp với Biên bản xem xét d u vết trên thân thể anh L, anh B (ngày 25/1/2024) của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu; Bản ảnh chụp c t lớp vi tính của Bệnh viện đa khoa Cu c sống đối với anh B (ngày 24/1/2024) và Kết luận giám định tỷ lệ thương tích của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đối với anh L, anh B (ngày 29/1/2024).
Thứ ba: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày 05/11/2024 Quàng Văn D khai: Trong quá trình đánh nhau, bị cáo Quàng Văn D dùng 02 tay đ m vào vùng m t, vùng đầu của anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B nhiều lần, nhiều phát với sức lực, cường đ mạnh, nhanh. Thể hiện ở việc bị cáo n m tay đ m mạnh nhiều nhát vào vùng đầu, vùng m t, vai của anh L, anh B; bị cáo D khẳng định khi đ m, đá anh L, anh B thì bị cáo nhìn th y anh L, anh B bị bầm tím ở vùng m t, vùng đầu phù hợp với lời khai của anh L, anh B và bị cáo P. Việc bị cáo D gây ra m t số vết rách da, xây xước cho anh L, anh B thì bị cáo D không nhớ rõ, do bị cáo D say rượu, bia và trời tối. Còn trong quá trình bị cáo D vật l n với anh L, anh B thì các đầu ngón tay của bị cáo D, tay anh L, anh B đều có móng tay nên có thể cào, c u trúng nhau; khi các ngón tay n m lại thì xương ngón tay nhô ra, cứng vẫn có thể gây xây xước, trầy da; bản thân bị cáo D cũng có vết bầm tím ở vùng m t (má phải xuất huyết; mắt phải, thương tích tỷ lệ: 3 %). Các d u vết thương tích trên là phù hợp với Biên bản xem xét d u vết trên thân thể anh L, anh B, bị cáo D (ngày 25/1/2024) của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu; Bản ảnh chụp c t lớp của Bệnh viện đa khoa Cu c sống đối với anh B (ngày 24/1/2024) và Kết luận giám định tỷ lệ thương tích của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đối với anh L, anh B (ngày 29/1/2024) và bị cáo D (ngày 01/3/2024).
Thứ 4: Để có căn cứ giải quyết vụ án đảm bảo đ ng theo quy định của pháp luật tại phiên tòa ngày 05/11/2024 Kiểm sát viên đã đề nghị H i đ ng xét xử hoãn phiên tòa yêu cầu triệu tập iám định viên giải thích xác định: Có tách riêng tỉ lệ gây thương tích của bị cáo Quàng Văn P (dùng hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho bị hại bao nhiêu %? Việc bị cáo Quàng Văn D (dùng tay đánh) gây thương tích cho bị hại Quàng Văn L và Lò Văn B bao nhiêu %? Trường hợp không thể tính tách được tỷ lệ phần trăm phần gây thương tích của t ng bị cáo thì yêu cầu giám định viên nêu rõ lý do, căn cứ? Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Quàng Văn L, Lò Văn B „„là do tác động của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên‟‟. Trong vụ án này, bị cáo Quàng Văn D (dùng tay đánh), yêu cầu giải thích rõ việc Quàng Văn D dùng tay đánh có phải là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên hay không?
* Ý kiến của giám định viên ông Trần Văn Bình tại phiên tòa ngày 08/01/2025: Tại thời điểm giám định Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Sơn La xác định vùng đầu, vùng m t của anh Quàng Văn L và anh Lò Văn B có nhiều vết thương đã đóng vảy, khô, các vết thương đang trong giai đoạn đóng vảy, khô, các vết thương có kích thước nhỏ, chiều dài 2cm trở xuống, chiều r ng t 01cm trở xuống, do đó Trung tâm pháp y không thể xác định và tách riêng tỷ lệ % thương tích của Quàng Văn P, Quàng Văn D gây nên cho anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B là bao nhiêu phần trăm. Trung tâm pháp y xác định cơ chế hình thành thương tích là do vật tày cứng, diện tiếp x c giới hạn gây nên. Quàng Văn D dùng tay đánh anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B được cho là vật tày cứng bởi vì: Tay chân con người cũng được coi là vật tày cứng nhưng chỉ ở m t số vị trí: Khuỷu tay khi g p, gót chân, m t trước cẳng chân, bàn tay khi n m lại các phần nhô ra cao nh t của phần xương ở phần khớp bàn ngón tay, các khớp L đốt ngón tay được xác định là vật tày cứng vì ở các vị trí này chỉ có m t lớp da mỏng và bên dưới là nền xương cứng, còn các vị trí khác mà có nhiều phần mềm dưới da như gân, cơ, tổ chức mỡ có đ co giãn, đàn h i tốt thì được coi là vật tày ho c vật tày mềm. Do đó Kết luận giám định của giám định viên về cơ chế hình thành thương tích là hoàn toàn phù hợp với lời khai của Quàng Văn P, Quàng Văn D, anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B.
Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu có đủ căn cứ để truy tố Quàng Văn P về t i Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự. Đã truy tố Quàng Văn D về t i Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 B luật hình sự như phần Kết luận tại Cáo trạng số: 168 /CT- VKSTC ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đ ng người, đ ng t i, đ ng pháp luật, không bị oan sai. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu vẫn gi nguyên Quyết định truy tố theo bản Cáo trạng số: 168 /CT- VKSTC ngày 01/10/2024.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Quàng Văn P, Quàng Văn D đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về t i Cố ý gây thương tích là đ ng người, đ ng t i.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu gi quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận t i, sau khi phân tích đánh giá tính ch t, mức đ hành vi phạm t i, nhân thân, vai trò đ ng phạm của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng n ng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị H i đ ng xét xử:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D phạm t i: Cố ý gây thương tích.
Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 B luật hình sự; khoản 4 Điều 328 B luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn P mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/01/2025).
Tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Quàng Văn P, nếu bị cáo không bị tạm giam về m t t i phạm khác.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 B luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn D mức án t 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là t 48 đến 60 tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/01/2025).
iao các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục. ia đình các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 B luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590 B luật dân sự:
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận việc chị Lường Thị N không yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường m t chiếc cốc bằng nhựa (loại cố dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0cm, đường kính đáy cốc 6,0 cm, cốc cao 12,0 cm đã qua sử dụng thu gi của bị cáo Quàng Văn P.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 B luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự:
- Tuyên tiêu hủy:
+ 01 viên gạch màu đỏ, bị vỡ mép đầu, làm bằng đ t nung dùng để xây nhà. Viên gạch có chiều dài 20,0 cm, chiều r ng 10,0 cm, dày 5,0 cm, khối lượng 1,6kg.
+ 01 chiếc cốc bằng nhựa (loại cố dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0cm, đường kính đáy cốc 6,0 cm, cốc cao 12,0 cm đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn b án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D.
* Ý kiến của người bào ch a cho bị cáo Quàng Văn P: Ông Điêu Chính Tùng - Trợ gi p viên: Nh t trí như lời luận t i của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Quàng Văn P đã nhận thức rõ về hành vi phạm t i của mình, đề nghị H i đ ng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ bị cáo phạm t i lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình sinh sống làm ăn tại địa phương luôn ch p hành tốt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã chủ đ ng, tích cực L đới b i thường thiệt hại, kh c phục toàn b hậu quả cho các bị hại với tổng số tiền là 30.000.000 đ ng, bị cáo phạm t i do có phần lỗi của các bị hại, gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn thu c h nghèo và các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kính mong H i đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Quàng Văn P: Nh t trí với bản luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, bản luận cứ bào ch a của luật sư bào ch a cho bị cáo, lời đề nghị của các bị hại. Bị cáo xin lỗi các bị hại về hành vi phạm t i của bị cáo đã gây ra, bị cáo r t ân hận đã nhận thức rõ về hành vi phạm t i của mình. Kính mong H i đ ng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ h i sửa ch a lỗi lầm, để trở thành người có ích cho gia đình và xã h i. Về án phí bị cáo là h nghèo có đề nghị và đơn xin miễn án phí.
Lời nói sau cùng của bị cáo Quàng Văn D: Nh t trí với bản luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, lời đề nghị của các bị hại. Bị cáo xin lỗi các bị hại về hành vi phạm t i của bị cáo đã gây ra, bị cáo r t ân hận đã nhận thức rõ về hành vi phạm t i của mình. Kính mong H i đ ng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ h i sửa ch a lỗi lầm, để trở thành người có ích cho gia đình và xã h i. Về án phí bị cáo có đề nghị và đơn xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự, thực hiện đ ng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, v ng m t người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan (Đ ng thời là người làm chứng) chị Lường Thị N tham gia tố tụng. Xét th y trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã công khai lời khai đó. Tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng đều đề nghị xét xử v ng m t. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của B luật tố tụng hình sự. H i đ ng xét xử tiến hành xét xử v ng m t theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 15/01/2025, v ng m t bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B tham gia tố tụng. Xét th y trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày 05/11/2024 bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B tham gia phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử v ng m t. Tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng đều đề nghị xét xử v ng m t. Căn cứ vào Điều 292 của B luật tố tụng hình sự. H i đ ng xét xử tiến hành xét xử v ng m t theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 15/01/2025, v ng m t ông Trần Văn Bình - iám định viên tham gia tố tụng. Xét th y trước đó tại phiên tòa ngày 08/01/2025 đã tham gia phiên tòa và có đề nghị xét xử v ng m t. Tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng đều đề nghị xét xử v ng m t. Căn cứ vào Điều 292 của B luật tố tụng hình sự. H i đ ng xét xử tiến hành xét xử v ng m t theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm t i của các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D nhận th y: Ngày 20/01/2024 Quàng Văn P, Quàng Văn D, Quàng Văn L, Lò Văn B đang ng i uống bia tại quán chị Lường Thị N thì anh Quàng Văn D đến. Do đứng phía sau nên D không th y được m t P và nhầm tưởng P là L nên D đi đến đứng bên phải và tát đùa m t cái vào má P. P quay người sang hỏi D “Sao anh lại tát tôi” thì D trả lời “Tao tưởng mày là thằng L”. Do bực tức nên P dùng tay trái tát m t phát vào m t D và cầm cốc bia bằng nhựa trên tay phải đập m t phát tr ng vào đầu D. Th y vậy, D đứng dậy kéo D ra ngoài và bảo D đi về. L đang ng i, th y D kéo D ra ngoài đã hiểu nhầm D đánh D nên đứng dậy chạy lại túm cổ áo D và nói “Mày đánh bạn tao à”. D cũng dùng tay túm cổ áo L nhưng không nói gì, sau đó cả hai giằng co và kéo nhau ra ngoài đường. P th y vậy nói lại với L “D nó không đánh, người đánh là tao” đ ng thời cầm chìa khóa trên tay lao vào đ m, chọc nhiều phát trúng vào m t L. D cũng dùng tay đ m vào người, m t L nhiều phát. B th y L bị P và D đánh nên cũng lao vào gi p L. B dùng tay đ m vào người, m t P và D. Lúc này, cả bốn người đánh nhau, P dùng chìa khóa xe mô tô đâm, chọc nhiều phát trúng vào m t L và B, D dùng tay đ m L và B, L và B dùng tay đánh vào m t, người P và D. Sau đó, bốn người tách ra, P đánh nhau với B, còn L đánh nhau với D. Th y L bị D đánh ngã trên m t đường nên P nh t m t viên gạch bên lề đường loại gạch đ t nung đỏ chạy đến đập m t phát tr ng vào đầu L. Sau đó, nhiều người dân xung quanh đến can nên bốn người d ng đánh nhau, r i P và D đi về nhà. Còn L và B được đưa đi khám tại Bệnh viện đa khoa cu c sống tỉnh Sơn La.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 45/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Quàng Văn L tại thời điểm giám định là 23%”. Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Quàng Văn L là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 46/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lò Văn B tại thời điểm giám định là 19%”. Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Lò Văn B là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên.
Ngày 16/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra công văn số: 02/2024/CV-TA yêu cầu Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Sơn La giải thích Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 45/KLTTCT-TTPY và số: 46/KLTTCT ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, đều kết luận: Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu, m t của Quàng Văn L, Lò Văn B là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên. Trong vụ án này, bị cáo Quàng Văn D (dùng tay đánh), đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La giải thích rõ việc Quàng Văn D dùng tay đánh có phải là do tác đ ng của vật tày, cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên hay không?.
Tại công văn số: 101/TTPY-CV Công văn ph c đáp của Trung tâm pháp y-Sở y tế tỉnh Sơn La ph c đáp và lời giải thích của giám định viên tại phiên tòa ngày 08/01/2025 như sau: Tại thời điểm giám định Trung tâm Pháp y xác định vùng đầu, vùng m t của anh Lò Văn B và anh Quàng Văn L có nhiều vết thương đang giai đoạn đóng vảy, khô, các vết thương có kích thước nhỏ, chiều dài t 02cm trở xuống, chiều r ng t 01 cm trở xuống, do đó Trung tâm pháp y không thể xác định và tách riêng tỷ lệ phần trăm thương tích của t ng đối tượng gây nên cho anh Lò Văn B và anh Quàng Văn L là bao nhiêu phần trăm.
Căn cứ biên bản ghi lời khai của Lò Văn B và Quàng Văn L và các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập xác định: Quàng Văn P dùng chìa khóa và dùng tay và, Quàng Văn D dùng tay đánh bị hại anh B và anh L. Vì vậy Trung tâm Pháp y xác định cơ chế hình thành các thương tích là do vật tày cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây nên.
Tại phiên toà Giám định viên khẳng định: Việc Quàng Văn D dùng tay đánh anh Lò Văn B và anh Quàng Văn L cũng được cho là vật tày, cứng bởi vì: Tay chân của con người cũng được coi là vật tầy cứng nhưng chỉ ở một số vị trí như: Khuỷu tay khi gấp, gót chân, mặt trước cẳng chân, bàn tay khi nắm lại các phần nhô ra cao nhất của xương ở phần khớp bàn ngón tay, các khớp L đốt ngón tay được xác định là vật tày cứng vì ở các vị trí này chỉ có một lớp da mỏng và bên dưới là nền xương cứng, còn các vị trí khác mà có nhiều phần mềm dưới da như cân, cơ, tổ chức mỡ có độ co giãn, đàn hồi tốt thì được xác định là vật tày hoặc vật tày mềm.
Tại phiên tòa các bị cáo gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm n i dung gì làm thay đổi n i dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nh t trí với hành vi phạm t i như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của các bị cáo phù hợp với: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp thông báo kết quả giải quyết ngu n tin, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đ , bản ảnh hiện trường, biên bản xem xét d u vết trên thân thể, kết luận giám định, công văn ph c đáp của Trung tâm giám định pháp y về giải thích Kết luận giám định, ý kiến của giám định viên tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B, lời khai của chị Lường Thị N và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại h sơ vụ án. H i đ ng xét xử đủ cơ sở xác định:
i a các bị cáo và các bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B không có mâu thuẫn t trước, nguyên nhân do hiểu nhầm anh Quàng Văn D đánh anh Quàng Văn D nên anh Quàng Văn L đứng dậy chạy lại túm cổ áo Quàng Văn D và nói “Mày đánh bạn tao à”. D cũng dùng tay t m cổ áo anh L nhưng không nói gì, sau đó cả hai giằng co và kéo nhau ra ngoài đường dẫn đến sự việc xô sát đánh nhau gây thương tích. P th y vậy nói lại với anh L “D nó không đánh, người đánh là tao” đ ng thời cầm chìa khóa trên tay lao vào đ m, chọc nhiều phát trúng vào m t anh L. D cũng dùng tay đ m vào người, m t L nhiều phát. Anh B th y anh L bị P và D đánh nên cũng lao vào gi p anh L. Anh B dùng tay đ m vào người, m t P và D. Lúc này, cả bốn người đánh nhau, P dùng chìa khóa xe mô tô đâm, chọc nhiều phát trúng vào m t anh L và anh B, D dùng tay đ m anh L và anh B, anh L và anh B dùng tay đánh vào m t, người P và D. Sau đó, bốn người tách ra, P đánh nhau với anh B, còn anh L đánh nhau với D. Th y anh L bị D đánh ngã trên m t đường nên P nh t m t viên gạch bên lề đường loại gạch đ t nung đỏ chạy đến đập m t phát tr ng vào đầu anh L.
Quàng Văn P đã có hành vi dùng chìa khóa xe mô tô là hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích đ m, chọc nhiều phát trúng vào m t anh L và anh B. Dùng m t viên gạch bên lề đường loại gạch đ t nung đỏ chạy đến đập m t phát tr ng vào đầu anh L.
Quàng Văn D đã dùng tay đ m nhằm gây thương tích cho anh L và anh B. Hậu quả gây thương tích cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng tỷ lệ thương tật do thương tích gây ra là 23%, gây thương tích cho bị hại anh Lò Văn B với tổng tỷ lệ thương tật do thương tích gây ra là 19% nên các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D phải cùng chịu trách nhiệm chung với hành vi này gây ra.
Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do b t phát, trong vụ án này m c dù các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D cùng thực hiện t i phạm nhưng hành vi của các bị cáo do nh t thời phạm t i, gi a các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, rủ rê, lôi kéo tham gia đánh nhau, nguyên nhân do bị hại Quàng Văn L t n công trước, thời điểm các bị cáo phạm t i trời tối nên tầm nhìn bị hạn chế, các bị cáo hướng về phía anh L, anh B để t n công không xác định vị trí cụ thể, mục đích nhằm gây thương tích cho anh anh L, anh B. Các bị cáo và anh L, anh B đã chủ đ ng d ng lại không t n công lẫn nhau n a.
Hành vi của các bị cáo Quàng Văn P dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho các bị hại đã phạm t i Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu truy tố bị cáo Quàng Văn P là có căn cứ, đ ng người, đ ng t i, đ ng pháp luật.
Đối với hành vi phạm t i của bị cáo Quàng Văn D khi tham gia đánh nhau gi a Quàng Văn D và Quàng Văn P không có sự bàn bạc, phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể cho t ng người. Mà "T i cố ý gây thương tích ho c gây tổn hại sức khỏe của người khác" là c u thành vật ch t nên phải xác định mối quan hệ nhân quả gi a hành vi và hậu quả xảy ra, để đánh giá vai trò của t ng bị cáo phù hợp với tính ch t, hành vi phạm t i của t ng bị cáo.
Trong vụ án này, các bị cáo đều là người thực hành, bị cáo Quàng Văn P là người trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm là 01 chìa khóa xe mô tô chọc nhiều phát trúng vào m t anh L và anh B, và dùng 01 viên gạch đập m t phát tr ng vào đầu anh L. Gây thương tích cho anh L là 23%, gây thương tích cho anh B với là 19%. Sự việc diễn ra nhanh chóng, việc bị cáo Quàng Văn P tự ý gi u 01 chìa khóa xe mô tô gây thương tích cho anh L và anh B, dùng 01 viên gạch gây thương tích cho anh L thì bị cáo Quàng Văn D không biết. Đây là hành vi vượt quá của người thực hành và c u thành tình tiết định khung tăng n ng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự, chỉ được áp dụng riêng với bị cáo Quàng Văn P.
Như vậy, bị cáo Quàng Văn D không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của bị cáo Quàng Văn P, mà bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả xảy ra tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh L là 23%, cho anh B với là 19% theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 B luật hình sự " ây thương tích ho c gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người t 11% đến 30%". Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về t i cố ý gây thương tích theo điểm b khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đ ng quy định.
. Xét tính ch t, mức đ hành vi phạm t i, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi phạm t i của các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D thu c trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân, quyền b t khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, hành vi của các bị cáo gây m t trật tự trị an xã h i tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm nào đ ng, việc làm nào sai và phải biết cố g ng lao đ ng, rèn luyện, phẩm ch t đạo đức để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã h i. Lẽ ra, khi xảy ra mâu thuẫn với các bị hại, nếu các bị cáo biết kiềm chế bản thân và lựa chọn cách cư xử phù hợp thì hậu quả sẽ không xảy ra. Các bị cáo chỉ vì bị anh Quàng Văn L gây sự trước nên các bị cáo đã t n công lại không xác định vị trí cụ thể, chỉ cố ý làm cho anh L, anh B bị thương. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường sức khỏe của người khác. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần lên mức án tương xứng với mức đ , hành vi của các bị cáo, để đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng cho t ng bị cáo và phòng ng a chung cho xã h i. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò đ ng phạm của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng n ng quy định tại Điều 52 B luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Sau khi phạm t i các bị cáo và gia đình đã tích cực b i thường, kh c phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Ngoài ra các bị cáo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã h i đ c biệt khó khăn, trình đ văn hóa nhận thức, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, các bị cáo phạm t i có phần lỗi của các bị hại, được các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm t i lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình sinh sống tại địa phương luôn ch p hành tốt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Bị cáo Quàng Văn P không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự, nên H i đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của B luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức th p nh t của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn được áp dụng theo Điều 134 của B luật hình sự cho bị cáo.
Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo phạm t i đ c lập, gi a các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, rủ rê, lôi kéo tham gia đánh nhau do đó không có đ ng phạm.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D và gia đình, bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B đề nghị cho bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D được hưởng mức phạt tù nhưng cho hưởng án treo. H i đ ng xét xử, th y rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, phạm t i lần đầu, ngoài lần phạm t i này luôn ch p hành tốt chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư tr , có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có nơi cư tr rõ ràng, ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét th y không cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã h i bởi bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng mức án phạt tù cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã h i, không ảnh hưởng x u đến an ninh, trật tự an toàn xã h i, cho các bị cáo cơ h i cải tạo ngoài c ng đ ng cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ng a t i phạm nói chung, đ ng thời cũng thể hiện chính sách pháp luật nhân đạo, khoan h ng của Nhà nước, thể hiện đường lối xét xử nghiêm trị kết hợp giáo dục cải tạo nên áp dụng khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 B luật hình sự đối với các bị cáo. iao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư tr và gia đình trực tiếp giám sát, giáo dục. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư tr ho c nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định bu c người đó phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo Quàng Văn D đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n c m đi khỏi nơi cư tr theo Quyết định c m đi khỏi nơi cư tr của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, do bị cáo được Tòa án tuyên hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cho nên mọi biện pháp ngăn ch n đang áp dụng phải được hủy bỏ do vậy H i đ ng xét xử Hủy bỏ Quyết định c m đi khỏi nơi cư tr đảm bảo đ ng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 B luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Quàng Văn P đang bị tạm giam, bị cáo bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, H i đ ng xét xử xét th y cần tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về m t t i phạm khác vận dụng khoản 4 Điều 328 B luật tố tụng hình sự.
Đối với hành vi của anh Quàng Văn L và anh Lò Văn B đã có hành vi dùng tay đánh vào người, m t P và D. Hậu quả, D bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3% dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, còn P không để lại thương tích. Do đó, hành vi của Quàng Văn L và Lò Văn B không đủ yếu tố c u thành t i phạm Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 B luật hình sự. Tuy nhiên, hành vi các đối tượng L, B đã gây m t trật tự tại khu dân cư, gây thương tích cho người khác là vi phạm điểm a khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã h i. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền đối với Quàng Văn L, Lò Văn B là có căn cứ, đ ng pháp luật.
Đối với hành vi của Quàng Văn D dùng tay tát nhẹ vào m t P không nhằm mục đích gây thương tích cho P mà chỉ muốn trêu đùa do nhầm tưởng P là Quàng Văn L (bạn của D). Quá trình điều tra xác định D không tham gia đánh nhau với P mà đi về nhà trước. Do đó, không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật đối với Quàng Văn D.
Về b i thường dân sự:
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận việc chị Lường Thị N không yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường m t chiếc cốc bằng nhựa (loại cố dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0cm, đường kính đáy cốc 6,0 cm, cốc cao 12,0 cm đã qua sử dụng thu gi của bị cáo Quàng Văn P.
(Căn cứ vào Điều 48 B luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590 B luật dân sự).
Vật chứng vụ án:
Đối với m t viên gạch màu đỏ, bị vỡ mép đầu, làm bằng đ t nung dùng để xây nhà, viên gạch có chiều dài 20,0 cm; chiều r ng: 10,0 cm; dày: 5,0cm; khối lượng: 1,6 kg, m t mép đầu bị vỡ là công cụ, phương tiện dùng vào việc đánh nhau trong vụ án này và không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với m t chiếc cốc bằng nhựa (loại cốc dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm; đường kính miệng cốc: 8,0 cm; đường kính đáy cốc: 6,0 cm; cốc cao: 12,0 cm, đã qua sử dụng là tài sản của chị Lường Thị N. Chị Nh t không có yêu cầu l y lại chiếc cốc này cần ch p nhận do đó cần tịch thu tiêu hủy.
(Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 B luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự).
Về án phí: Các bị cáo là người dân t c thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã h i đ c biệt khó khăn, bị cáo Quàng Văn P là h nghèo, các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn b án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 B luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 B luật hình sự; khoản 4 Điều 328 B luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn P phạm t i: T i Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn P 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/01/2025).
Tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Quàng Văn P, nếu bị cáo không bị tạm giam về m t t i phạm khác.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 B luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn D phạm t i: T i Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn D 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/01/2025).
iao các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục. ia đình các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 B luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590 B luật dân sự tuyên:
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn P b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 15.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Quàng Văn L với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Quàng Văn L đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận sự tự nguyện thỏa thuận gi a bị cáo Quàng Văn D b i thường các khoản tiền viện phí, m t thu nhập, tổn th t tinh thần..... cho bị hại anh Lò Văn B với tổng số tiền: 5.000.000 đ ng. Bị hại anh Lò Văn B đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu bị cáo Quàng Văn D b i thường chi phí gì khác.
Ch p nhận việc chị Lường Thị N không yêu cầu bị cáo Quàng Văn P b i thường m t chiếc cốc bằng nhựa (loại cốc dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0cm, đường kính đáy cốc 6,0 cm, cốc cao 12,0 cm đã qua sử dụng thu gi của bị cáo Quàng Văn P.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 B luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự: Tuyên tiêu hủy:
+ 01 viên gạch màu đỏ, bị vỡ mép đầu, làm bằng đ t nung dùng để xây nhà. Viên gạch có chiều dài 20,0cm, chiều r ng 10,0cm, dày 5,0cm, khối lượng 1,6kg.
+ 01 chiếc cốc bằng nhựa (loại cốc dùng để uống nước), màu tr ng, có quai cầm, đường kính miệng cốc 8,0cm, đường kính đáy cốc 6,0cm, cốc cao 12,0cm đã qua sử dụng.
(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn b án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 B luật tố tụng hình sự : Các bị cáo Quàng Văn P, Quàng Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Bị hại anh Quàng Văn L, anh Lò Văn B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án chị Lường Thị N được kháng cáo phần bản án ho c quyết định có L quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Công an huyện Thuận Châu; - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - UBND xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; - Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Sơn La; - Người bào ch a; - Các bị cáo; - Các bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án; - Lưu án văn; - Lưu h sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Tiến Hải |