vanban.org

Bản án 31/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Hờ A D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Hờ A D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2025. Án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hờ A D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hờ A D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày: 11-9-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : ông Trương Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: bà Cao Thị Hồng Minh

bà Đỗ Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: bà Giáp Thị Bích Phượng, Thư ký TAND Khu vực X - Điện Biên

- Đại diện Viện kiểm sát Khu vực X - Điện Biên tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thùy Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án Khu vực X - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025 QĐ T-H ngày 28/8/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hờ A D, sinh ngày 01/01/1999 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên (cũ) nay là bản H, xã Q, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: không học; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hờ Vảng , sinh năm 1970 và bà Giàng Thị M, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: 01 tiền án. Năm 2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản số 95 2024 H T ngày 19 9 2024, bị cáo chấp hành xong ngày 30 5 2025, chưa được xóa án tích. Tiền sự: ngày 28 6 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian 18 tháng tại quyết định số 17 QĐ-TA, chấp hành xong ngày 05 6 2024, chưa được xóa tiền sự; Nhân thân: năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian 18 tháng tại Quyết định số 18 QĐ-TA ngày 05 10 2018; Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian 24 tháng tại Quyết định số 11 QĐ-TA ngày 13/5/2020. Tạm giữ: từ ngày 31 5 2025 đến ngày 6 6 2025; tạm giam: từ ngày 06/6/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Dương Văn L, sinh ngày 06/10/1996; địa chỉ: tổ dân phố 3, phường M, thành phố Đ (nay là phường Đ), tỉnh Điện Biên. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 31 5 2025, bị cáo Hờ A D một mình đi bộ từ Quảng trường B rẽ vào đường dân sinh thuộc tổ dân phố A, phường M, thành phố Đ (nay là phường Đ), tỉnh Điện Biên, mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường phía sau thư viện tỉnh Điện Biên, bị cáo thấy 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, màu đỏ, biển kiểm soát 27A-153.AB của anh Dương Văn L đang đỗ trên lề đường. Bị cáo quan sát xung quanh thấy không có người nên tiến lại gần dùng tay phải mở cửa xe phía trước bên ghế phụ và vào trong xe, khi đã ở trong ô tô bị cáo thấy 01 chiếc cặp đựng tài liệu ở hàng ghế sau liền mở chiếc cặp nhưng thấy bên trong không có tài sản gì nên đã để cặp lại chỗ cũ rồi lục tìm thì thấy tại hộc để đồ ở giữa hàng ghế phía trước có số tiền 644.000 đồng, bị cáo lấy hết số tiền đó cho vào túi quần đang mặc. au đó, tiếp tục tìm thì thấy ở hộc để đồ dưới Taplo trước mặt ghế phụ có 01 chiếc ví da màu đen, trong ví có 1.000.000 đồng và 01 căn cước công dân, 02 thẻ ngân hàng, bị cáo lấy chiếc ví cho vào túi quần đang mặc rồi mở cửa xe ra ngoài. Bị cáo chạy theo hướng đi nghĩa trang M rồi quay về Quảng trường B, tại đây bị cáo thay bộ quần áo khác đã để sẵn từ trước để tránh bị phát hiện.

áng ngày 31 5 2025 bị cáo sử dụng số tiền lấy được chi tiêu cá nhân hết 196.000 đồng. Đến 21 giờ ngày 31 5 2025, khi bị cáo đang ngồi chơi điện tử tại quán game Runnow tại tổ dân phố PQ, phường M (cũ), nay là phường Đ, tỉnh Điện Biên thì bị anh Dương Văn L đi tìm kiếm, phát hiện và trình báo Công an, Công an phường M, thành phố Đ đã bắt giữ bị cáo và thu giữ vật chứng.

Vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo gồm: 01 chiếc ví nam dạng da màu đen; số tiền 1.448.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Dương Văn L, 01 thẻ ngân hàng VietinBank và 01 thẻ ngân hàng BIDV cùng mang tên Dương Văn L; 01 chiếc quần vải dài màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay không cổ màu đen; 01 giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cấp cho Hờ A D.

Kết luận định giá tài sản số 10/KL ngày 03/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: giá thị trường tại thời điểm ngày 31/5/2025 của 01 chiếc ví nam dạng da, màu đen, kiểu gập đôi, có dập chữ LAVATINO là 500.000 đồng.

Bị hại Dương Văn L có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về thời gian, địa điểm bị mất tài sản và đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt, bị hại đã nhận lại số tiền 1.448.000 đồng cùng các tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 196.000 đồng.

Cáo trạng số 19/CT-VKSHTC ngày 14/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Điện Biên đã truy tố bị cáo Hờ A D về tội Trộm cắp tài sản, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐ : áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về bồi thường dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 196.000 đồng bị cáo đã chi tiêu nên đề nghị Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải bồi thường; Về vật chứng đề nghị công nhận quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra về việc trả lại các tài sản cho bị hại và bị cáo; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì sau khi nghe luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, xét thấy bị hại đã có lời khai tại cơ quan Điều tra nên sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, HĐ quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua lời khai của bị cáo, bị hại và các chứng cứ được làm rõ tại phiên tòa đã xác định được:

Bị cáo Hờ A D vì muốn có tiền để sử dụng cho mục đích cá nhân, nên khoảng 00 giờ ngày 31/5/2025, lợi dụng đêm tối, trên đường không có người qua lại, bị cáo đã lén lút mở cửa xe ô tô của bị hại đang để trên lề đường trước nhà, bị cáo đã lấy được các tài sản bị hại để trong xe ô tô gồm: số tiền 644.000 đồng, 01 ví nam dạng da có giá trị 500.000 đồng cùng các vật dụng tài sản khác trong ví gồm: số tiền 1.000.000 đồng, 01 căn cước công dân và 02 thẻ ngân hàng, sau khi lấy được tài sản Bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết 196.000 đồng, số tiền còn lại 1.448.000 đồng đã bị cơ quan Công an thu giữ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại xác nhận khoảng thời gian, địa điểm mất tài sản, đặc điểm của tài sản bị chiếm đoạt và tài sản cơ quan Điều tra đã thu lại được, phù hợp với các vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, video trích xuất từ camera ghi lại hành vi của bị cáo, Kết luận định giá tài sản.

Như vậy có đủ cơ sở để xác định bị cáo Hờ A D đã lợi dụng lúc chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý tài sản, đã lén lút lấy tài sản của bị hại để sử dụng cho mục đích cá nhân, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt tổng cộng là 2.144.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình Điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: năm 2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản số 95 2024 H T ngày 19 9 2024, bị cáo chấp hành xong ngày 30 5 2025, đến ngày bị cáo thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: bị cáo 03 lần bị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong đó có 01 quyết định chưa được xóa tiền sự, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu và cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

Xét tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo thực hiện hành vi một mình, không có đồng phạm, động cơ mục đích phạm tội giản đơn. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Theo xác minh của cơ quan điều tra bị cáo không có tài sản, điều kiện kinh tế khó khăn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bồi thƣờng dân sự:

Bị hại đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 196.000 đồng bị cáo đã chi tiêu, do đó Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại.

Xử lý vật ch ng:

Đối với các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định, số tiền 196.000 đồng bị cáo chi tiêu cá nhân cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về án phí:

Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Hờ A D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hờ A D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2025.

2. Án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

3. Kháng cáo: áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự,

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo đối với người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ