vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Q.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá D. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008, cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyên + Duyên"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04-4-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Thao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Nhàn

2. Ông Phạm Văn Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Q; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường Đ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá D; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường Đ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Vũ Thị Q trình bày:

Chị Q và anh Nguyễn Bá D kết hôn với trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ, huyện A (nay là phường Đ, quận Hồng Bàng), thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 07/5/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại thôn V, xã Đ, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường Đ, quận Hồng Bàng), thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nghiêm trọng nhất là từ năm 2020 đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp dẫn đến thường xuyên xảy mâu thuẫn. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bá D.

Về con chung: Chị Q và anh Nguyễn Bá D có 02 con chung tên là Nguyễn Bá T, sinh ngày 17/8/2004 và Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Bá T cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung Nguyễn Bá T đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lo được cuộc sống, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị Q và chị Duyên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Bá D: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Duyên nhưng chị Duyên không đến Tòa án thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và cũng không gửi bất kỳ văn bản nào thể hiện quan điểm, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá D. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008 cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung Nguyễn Bá T đã trưởng thành, không giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Vũ Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Vũ Thị Q khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Bá D có nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường Đ, quận Hồng Bàng), thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trước khi thụ lý vụ án thì xã Đ thuộc huyện An Dương (nay là quận An Dương) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương (nay là Tòa án nhân dân quận An Dương), thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Q và chị Duyên vắng mặt, chị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn chị Duyên vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Vũ Thị Q và anh Nguyễn Bá D.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và chị Duyên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyên và được UBND xã Đ, huyện A (nay là phường Đ, quận Hồng Bàng), thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 07/5/2003 nên xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống; vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Q và chị Duyên mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đủ căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Q được ly hôn chị Duyên.

Về con chung: Chị Q và chị Duyên có 02 con chung tên là Nguyễn Bá T, sinh ngày 17/9/2004 và Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008. Xét thấy việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị Q đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Bá T cho chị trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Duyên không có quan điểm về nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Con chung Nguyễn Bá T đã trưởng thành, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của con chung, để đảm bảo quyền lợi cho con chung chưa thành niên, nên giao con chung Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008 cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Bá T đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lo được cuộc sống nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ việc dân sự khác.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Bá D không có quan điểm về tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ việc dân sự khác.

Về án phí: Chị Vũ Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Q và anh Nguyễn Bá D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Bá D.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bá T, sinh ngày 04/02/2008, cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ việc dân sự khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ việc dân sự khác.

5. Về án phí: Chị Vũ Thị Q phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Q đã nộp (biên lai thu tiền số 0008616 ngày 03 tháng 12 năm 2024) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương (nay là quận An Dương), thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Q và anh Nguyễn Bá D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ