vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Hồ Sỹ M. 2. Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Hải A, sinh ngày 26/8/2013 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016 cho chị Hồ Sỹ M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Trương Thị H và anh Hồ Sỹ M"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƢU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 28-5-2025
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Thu và ông Trần Xuân Tùng.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 85/2025/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1985; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm ĐV, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Hồ Sỹ M, sinh năm 1981; vắng mặt

Địa chỉ: Xóm ĐV, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2025, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Trương Thị H trình bày:

Chị và anh Hồ Sỹ M tự nguyện tìm hiểu nhau, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm trong cách làm ăn phát triển kinh tế gia đình, cũng như các mối quan hệ khác. Chị đã nộp đơn đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng nghĩ đến con và mong muốn cho anh M có cơ hội thay đổi nên chị đã rút đơn. Thời gian gần đây anh M còn không quan tâm hỏi han chị, còn chửi bới xúc phạm chị, khiến chị không thể chịu đựng được nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh M nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Sỹ M.

Về con chung, vợ chồng có 02 con chung là Hồ Thị Hải A, sinh ngày 26/8/2013 và Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, anh Hồ Sỹ M trình bày: Anh và chị Trương Thị H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QB ngày 30/7/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường không có mâu thuẫn gì trầm trọng nhưng do tính nết chị H thay đổi, hay cố chấp, không thông cảm cho chồng con, nên chị H tự làm đơn ly hôn. Hiện tại vợ chồng vẫn sống chung với nhau. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ý kiến anh không nhất trí, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Về con chung: Anh thống nhất như chị H trình bày về họ tên và ngày tháng năm sinh của 02 con chung. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng của cháu Hồ Thị Hải A và Hồ Thị Hải Y là xin được ở với mẹ.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã QB: Chị H và anh M có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2012 tại UBND xã QB. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn địa phương không nắm được vì không qua hòa giải cơ sở. Nay chị H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con thì đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án xử cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Hồ Sỹ M; Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Hải A, sinh ngày 26/8/2013 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016 cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị H, anh M vì không ai có yêu cầu; về tài sản không xem xét vì đương sự không yêu cầu; đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Chị Trương Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Hồ Sỹ M, đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Anh M có hộ khẩu thường trú tại xóm ĐV, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Hồ Sỹ M nhưng anh M vẫn không hợp tác, vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Hồ Sỹ M có đăng ký kết hôn ngày 24/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh M là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống, theo chị H thì mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau, anh M hay chửi bới xúc phạm chị; theo anh M thì vợ chồng chưa có mâu thuẫn gì trầm trọng và vợ chồng chưa sống ly thân. Tuy hai bên trình bày khác nhau về tình trạng hôn nhân hiện nay nhưng anh M cũng thừa nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do chị H tính nết thay đổi, không thông cảm cho chồng. Chị H kiên quyết xin ly hôn, mong muốn Tòa án giải quyết để chị được yên ổn cuộc sống, anh M không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh M không hợp tác. Do đó cho thấy anh M không còn mong muốn xây dựng hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Hồ Sỹ M là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình .

VÒ con chung: Chị H và anh M có 02 con chung là Hồ Thị Hải A, sinh ngày 26/8/2013 và Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016. Chị H và anh M đều có nguyện vọng được nuôi con. Con là của chung cả 02 người, trách nhiệm nuôi con là của cả hai. Do đó cần giao cho chị H được trực tiếp nuôi cháu Hồ Thị Hải A; giao cháu Hồ Thị Hải Y cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh M không ai yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

Về tài sản: Chị H và anh M không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Nếu đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị H.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Hồ Sỹ M.

2.2. Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Hải A, sinh ngày 26/8/2013 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Hồ Thị Hải Y, sinh ngày 06/7/2016 cho chị Hồ Sỹ M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh M, chị H vì không ai yêu cầu.

Anh M, chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm cản trở.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Về quan hệ tài sản: Chị Trương Thị H và anh Hồ Sỹ M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác.

3. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000003192970, mã tham chiếu G22.99.7-250310118245 ngày 10/3/2025 nộp tại Kho bạc nhà nước huyện Quỳnh Lưu qua số TK 3949.0.1047949.00000 và biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 58 ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật THADS. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.

5. Chị Trương Thị H và anh Hồ Sỹ M có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản sao bản án.

Cỡ chữ