vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Trần Văn D. Về con chung: Chị Nguyễn Thị C được tiếp tục nuôi Dỡng con chung tên Trần Thị Mỹ Linh, sinh ngày 15/4/2009. Anh D không phải cấp Dỡng nuôi con do chị C không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chứa-Dư"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-4-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Hiến.

2. Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 488/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978.

Địa chỉ: ấp 3, xã LB, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1979.

Địa chỉ: ấp 3, xã LB, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị C là nguyên đơn trình bày:

- Về hôn nhân: Vợ chồng chị C, anh D chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LB, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau này tình cảm vợ chồng nhợt nhạt hơn, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Hiện nay tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn D.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 13/3/2003 và Trần Thị Mỹ Linh, sinh ngày 15/4/2009. Hiện nay con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung tên Trần Thị Mỹ Linh đang sống với chị C. Khi ly hôn chị C yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Trần Thị Mỹ Linh và không yêu cầu anh D cấp Dỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trần Văn D đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị C nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trần Văn D. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Anh Trần Văn D là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ ở ấp 3, xã LB, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị C, anh D chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LB, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2002, do đó hôn nhân giữa chị C và anh D là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau này tình cảm vợ chồng nhợt nhạt hơn, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Hiện nay tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn D.

Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Trần Văn D tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh D vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị C.

Xét thấy giữa chị C và anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, mục đích hôn nhân của anh, chị không đạt được. Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ để chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị C và anh D mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị C.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 13/3/2003 và Trần Thị Mỹ Linh, sinh ngày 15/4/2009. Hiện nay con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung tên Trần Thị Mỹ Linh đang sống với chị C. Khi ly hôn chị C yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Trần Thị Mỹ Linh và không yêu cầu anh D cấp Dỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho chị C hay cho anh D nuôi Dỡng là cần xem xét về điều kiện, quyền lợi mọi mặt của con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị C cho rằng con chung tên Trần Thị Mỹ Linh đang sinh sống với chị C và chị C có yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp Dỡng nuôi con. Anh D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ”.

Xét thấy từ khi chị C, anh D xảy ra mâu thuẫn đến nay, chị C là người trực tiếp chăm sóc con chung tên Trần Thị Mỹ Linh. Bên cạnh đó theo văn bản ghi ý kiến của con chung thì con chung có nguyện vọng được sống với chị C. Do đó để con chung tên Trần Thị Mỹ Linh, sinh ngày 15/4/2009 cho chị C được tiếp tục nuôi Dỡng. Anh D không phải cấp Dỡng nuôi con do chị C không có yêu cầu.

Đối với con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 13/3/2003 đã trưởng thành, tự lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nuôi, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi Dỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Chị C trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; anh D không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị C trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; anh D không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Về trách nhiệm chịu án phí:

Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Trần Văn D.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị C được tiếp tục nuôi Dỡng con chung tên Trần Thị Mỹ Linh, sinh ngày 15/4/2009. Anh D không phải cấp Dỡng nuôi con do chị C không có yêu cầu.

Đối với con chung tên Trần Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 13/3/2003 đã trưởng thành, tự lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nuôi, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi Dỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Chị C trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; anh D không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị C trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; anh D không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011314 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Như vậy tiền án phí chị C đã nộp xong.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ