vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L. Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Võ Văn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 136 ngày 29/10/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Truc L- Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-04-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hừng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chau Khon Sốc

2. Bà Trần Thị Ngọc Phượng

- Thư ký phiên toà: Ông Chau Chanh Đô Ra là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn: Ông Chau Pho Ly, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1990 (xin xét xử vắng mặt); địa chỉ: Đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang;

2. Bị đơn: Võ Văn H, sinh năm 1992 (vắng mặt); địa chỉ: Đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị Trúc L trình bày:

Bà L và ông H có thời gian quen biết tự nguyện tìm hiểu nhau, sau đó tổ chức lễ cưới về chung sống năm 2012 và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã thị trấn T vào ngày 29/10/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau và ông H không lo làm kinh tế phụ giúp nuôi con, thường xuyên nhậu nhẹt, kinh tế trong gia đình do bà L lo liệu, mâu thuẫn kéo dài nên bà L và ông H đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L kiên quyết ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung gồm Võ Thị Phúc H1, sinh ngày 01/9/2012 và Võ Quốc T, sinh ngày 18/11/2024, hiện tại bà L đang nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con vì kinh tế của bà L đảm bảo chăm lo cho các con, hiện tại bà L đang buôn bán thịt bò ngoài chợ thu nhập ở mức khoảng 500.000 đồng đến 600.000 đồng/ngày.

Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn H vắng mặt trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, không ghi nhận được ý kiến trình bày, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ và chấp hành đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Nhận thấy nguyên đơn và bị đơn chung sống có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2012, đến khoảng năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp thường xuyên cãi nhau, ông H không chí thú làm ăn, kinh tế trong gia đình do một mình bà L lo liệu, ông H còn thường xuyên nhậu nhẹt, dẫn đến việc bà L khởi kiện ly hôn, và đôi bên đã ly thân từ năm 2018 đến nay chưa về chung sống lại; mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 20/3/2025, lời khai của bà L phù hợp kết quả xác minh về thời gian đôi bên ly thân, ông H liên tục vắng mặt không tạo cơ hội để hòa giải với bà L để tìm cách hàn gắn lại tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Bà L và ông H có 02 con chung gồm Võ Thị Phúc H1, sinh ngày 01/9/2012 và Võ Quốc T, sinh ngày 18/11/2024, hiện tại bà L đang nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Căn cứ theo Bản tự khai ngày 13/11/2024 thể hiện cháu Võ Thị Phúc H1 có nguyện vọng muốn chung sống với bà L. Đối với cháu Võ Quốc T hiện nay chưa đủ 12 tháng tuổi nên giao cho L chăm sóc là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm nom con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngày 21 tháng 8 năm 2024 bà Nguyễn Thị Trúc L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn H và yêu cầu giải quyết về nuôi con đối với cháu H1, ngày 14 tháng 3 năm 2025, bà L có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu giải quyết về nuôi con đối với cháu T. Ông H cư trú tại đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 08/4/2025 bị đơn vắng mặt Tòa án đã hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do; riêng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Bà L và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T vào ngày 29/10/2012 là quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa bà L và ông H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng không thể hàn gắn được, bà L yêu cầu ly hôn. Trong suốt quá trình tiến hành tố tụng Toà án đã tạo điều kiện hoà giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H vắng mặt suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án là tự từ bỏ quyền lợi của mình. Xét về mâu thuẫn từ năm 2018 bà L và ông H đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, thường xuyên cãi nhau, ông H còn thường xuyên nhậu nhẹt, không chí thú làm ăn, kinh tế trong gia đình do một mình bà L lo liệu, các bên đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay bỏ mặc nhau tự sống, không còn tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau điều này phù hợp với kết quả Biên bản xác minh ngày 20/3/2025. Do đó, mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ.

Về con chung: Bà L và ông H có 02 con chung gồm Võ Thị Phúc H1, sinh ngày 01/9/2012 và Võ Quốc T, sinh ngày 18/11/2024, hiện tại bà L đang nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù với nguyện vọng của cháu H1, riêng cháu T hiện nay dưới 12 tháng tuổi, việc giao 02 con chung cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về con chung được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Võ Thị Phúc H1, Võ Quốc T và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo mức án phí không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L. Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Võ Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 136 ngày 29/10/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc L được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Võ Thị Phúc H1, sinh ngày 01/9/2012 và Võ Quốc T, sinh ngày 18/11/2024. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Võ Thị Phúc H1, Võ Quốc T được sống chung với bà L, tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con chung của bà L.

Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, bà L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con trên cơ sở vì lợi ích của con chung.

Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012783 ngày 21-10-2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà Nguyễn Thị Trúc L đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ