vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc A.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc A được ly hôn với anh Kim Bé N. Về con chung: Giao 03 con chung của chị A và anh N tên Kim Thị Thùy L, sinh ngày 04/6/2009, Kim Thị Thùy T, sinh ngày 14/4/2011 và Kim Bùi Minh Đ, sinh ngày 05/6/2017 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A không phải cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn và tranh chấp về nuôi con giữa chị Bùi Thị Ngọc A với anh Kim Bé N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 4 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T C, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Trí là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện T C, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện T C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc A, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Số nhà 49, ngõ 164 Hồng Mai, Phường Bạch M, Quận H, Hà Nội.

(có đơn xin vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của chị Bùi Thị Ngọc A là ông Trần Kiến Qu, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Ấp Nhơn Hòa, xã Tân Hòa, huyện T C, tỉnh Trà Vinh;

2. Bị đơn: Anh Kim Bé N, sinh năm 1988; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Cây Da, xã Hùng Hòa, huyện T C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai của chị Bùi Thị Ngọc A là nguyên đơn như sau:

Chị A và anh Kim Bé N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 06/02/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Đoàn Đào, huyện Ph, tỉnh Hưng Yên.Trong quá trình sống chung chị A và anh Nam có 03 con chung tên Kim Thị Thùy L, sinh ngày 04/6/2009, Kim Thị Thùy T, sinh ngày 14/4/2011 và Kim Bùi Minh Đ, sinh ngày 05/6/2017, hiện 03 con chung đang sống với anh Kim Bé N.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng sống chung không hợp với nhau, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày, anh Kim Bé N không rõ ràng trong vấn đề tiền bạc của gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị A yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Chị A đồng ý giao 03 con chung cho anh Kim Bé N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị A tự nguyện cấp dưỡng cho 03 con chung với số tiền 1.000.000 đồng/tháng/01 con chung, đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra do ở xa nên chị Bùi Thị Ngọc A có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Anh Kim Bé N là bị đơn trình bày như sau:

Vào năm 2008 anh Kim Bé N có chung sống với chị Bùi Thị Ngọc A và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Đoàn Đào, huyện Ph, tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình sống chung chị A và anh Nam có 03 con chung tên Kim Thị Thùy L, sinh ngày 04/6/2009, Kim Thị Thùy T, sinh ngày 14/4/2011 và Kim Bùi Minh Đ, sinh ngày 05/6/2017, hiện 03 con chung đang sống với anh Kim Bé N.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng sống chung với nhau không hòa thuận, trong cuộc sống vợ chồng xãy ra nhiều mâu thuẩn, thường hay cự cải, chị A tự ý bỏ nhà đi theo người đàn ông khác nên vợ chồng anh đã sống ly thân với nhau từ tháng 03/2018 cho đến nay. Do đó anh N đồng ý ly hôn với chị A.

Về con chung: Anh Kim Bé N đồng ý tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 người con chung và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi 03 con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các con chung của chị Bùi Thị Ngọc A và anh Kim Bé N là Kim Thị Thùy L, Kim Thị Thùy T và Kim Bùi Minh Đ thống nhất trình bày nguyện vọng tiếp tục sống chung với cha ruột là anh Kim Bé N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Bùi Thị Ngọc A có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị A.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn và tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T C theo quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc A và anh Kim Bé N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị A và anh N thống nhất đời sống vợ chồng có nhiều mâu thuẩn và thống nhất ly hôn với nhau. Xét thấy qua lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ đương sự cung cấp đã thể hiện về tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh N có nhiều mâu thuẫn do không có sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ nhau, anh Nam không còn chung sống với chị A từ năm 2018 cho đến nay. Từ đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị A và anh N đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị A và anh N có 03 con chung tên Kim Thị Thùy L, sinh ngày 04/6/2009, Kim Thị Thùy T, sinh ngày 14/4/2011 và Kim Bùi Minh Đ, sinh ngày 05/6/2017, hiện 03 con chung đang sống với anh Kim Bé N. Hiện nay anh N là người trực tiếp nuôi con, đồng thời các con của chị A, anh N đều thống nhất có nguyện vọng tiếp tục sống chung với anh Nam. Do đó xét thấy cần giao 03 con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích quy định của pháp luật về việc người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng anh N khai có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi con nên khi ly hôn chị A không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị A và anh N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Chị A và anh N khai không có thiếu nợ ai nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét thấy cần buộc chị Bùi Thị Ngọc A phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc A.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc A được ly hôn với anh Kim Bé N.

Về con chung: Giao 03 con chung của chị A và anh N tên Kim Thị Thùy L, sinh ngày 04/6/2009, Kim Thị Thùy T, sinh ngày 14/4/2011 và Kim Bùi Minh Đ, sinh ngày 05/6/2017 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Về tài sản chung: Chị A và anh N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Chị A và anh N khai không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006549 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T C. Chị A đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ