- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày 31-3-2025 “V/v Ly hôn giữa bà P và ông T ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1975
Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974
Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án bà Nguyễn Thị Thu P trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị Thu P (gọi tắt là bà P) và ông Nguyễn Thanh T (gọi tắt là ông T) chung sống với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 10 tháng 5 năm 2006 theo quy định.
Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T không lo làm ăn xây dựng gia đình mà ham mê chơi số chơi bài gây nợ nần bà P nhiều lần phải vay mượn nợ để trả nợ thay cho chồng, ngoài ra ông T còn sống không chung thuỷ với vợ mà có vợ bé vợ mọn bên ngoài làm cho đời sống hôn nhân không có hạnh phúc. Bà P đã chịu đựng trong thời gian dài và khuyên nhủ chồng nhưng tính tình của ông T không thay đổi. Sau khi gây nợ ông Tbỏ gia đình đi đến nay đã hai năm không còn quan tâm tới gia đình vợ con. Đến nay bà nhận thấy không thể duy trì hôn nhân với chồng nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà P xác định vợ chồng có hai người con chung tên Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 01/01/2005 (đã trưởng thành và phát triển bình thường) và Nguyễn Thanh P1, sinh ngày 29/8/2010. Khi ly hôn bà P có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Thanh P1 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Bà P xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của của bà Nguyễn Thị Thu P.
Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Nguyễn Thanh P1 có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
Thu thập chứng cứ: Nguyên đơn đã cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy căn cước công dân (Bản công chứng); giấy khai sinh của con chung. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà P được ly hôn với ông T; về con chung giao cháu Nguyễn Thanh P1 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Quan hệ pháp luật: Bà P yêu cầu ly hôn với ông T và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh T là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của bà Phường, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1 Về hôn nhân: Bà P và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét thấy, qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương thể hiện sau một thời gian chung sống đời sống hôn nhân của bà P và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, ham mê cờ bạc gây nợ nần và ông Tkhông chung thuỷ với vợ con từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng hôn nhân không có hạnh phúc. Hiện nay bà Pg và ông T đã sống ly thân khoảng hai năm, mỗi người đều có cuộc sống riêng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và trong quá trình Toà án giải quyết các đương sự không có thiện chí hàn gắn hôn nhân việc hoà giải đoàn tụ không thành. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của bà P cho bà được ly hôn với ông T.
2.2 Về con chung: Bà P và ông T chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 01/01/2005 và Nguyễn Thanh P1, sinh ngày 29/8/2010. Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Từ khi bà P với ông Tùng ly thân cháu Nguyễn Thanh P1 sống với mẹ có cuộc sống sinh hoạt ổn định, hiện tại bà P lao động có thu nhập đảm bảo việc nuôi dưỡng con đồng thời cháu Nguyễn Thanh P1có nguyện vọng được sống với mẹ do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Thanh P1 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng sau khi bà P và ông T ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết ông, bà có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Bà P xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà P là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu P.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu P và ông Nguyễn Thanh T.
2. Về con chung:
Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 01/01/2005 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
Đối với cháu Nguyễn Thanh P1, sinh ngày 29/8/2010 giao cho bà Nguyễn Thị Thu P tiếp tục nuôi dưỡng sau khi bà Nguyễn Thị Thu P và ông Nguyễn Thanh T ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Thu P không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết ông, bà có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu P xác định không có, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu P có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003600 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Bà Nguyễn Thị Thu P đã nộp đủ án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 31/3/2025, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã Nam Yên ; - Lưu, HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thơm |