vanban.org

Bản án 31/2025/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N. Buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trị…

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N cho đến khi thi hành xong khoản tiền bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th phải thanh toán cho bà Trịnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N. Buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trị…
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/DS-ST
Ngày: 22 – 8 – 2025
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tăng Văn Thành

Ông Nguyễn Văn Hành

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLST–DS, ngày 21 tháng 01 năm 2025, về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Xuân L, sinh ngày 12/12/1950 (chết ngày 23/7/2025) ; Địa chỉ: Số nhà 260, ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp H, Phường M, Thành phố Cần Thơ.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

+ Bà Trịnh Thị Cẩm H, sinh ngày 09/9/1958; Địa chỉ: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp L, xã L, Thành phố Cần Thơ (có mặt).

+ Bà Võ Thị Mỹ Ng, sinh ngày 01/01/1989; Địa chỉ: Ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp H, Phường M, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

+ Bà Võ Thị Mỹ N, sinh ngày 19/8/1995; Địa chỉ: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp L, xã L, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Mỹ Ng và Võ Thị Mỹ N: Bà Trịnh Thị Cẩm H, sinh ngày 09/9/1958; Địa chỉ: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp L, xã L, Thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Bị đơn:

+ Ông Lý Si Q, sinh ngày 01/01/969; Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

+ Bà Lâm Thị Chanh Th, sinh ngày 01/01/1971; Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 12 năm 2024 và tại phiên tòa, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H trình bày:

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, ông Võ Xuân L có thỏa thuận nhận chuyển nhượng phần diện tích đất của vợ chồng ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th. Tuy nhiên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đang thế chấp cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - Phòng giao dịch thị trấn L

- Chi nhánh Sóc Trăng. Ông Võ Xuân L và ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th thống nhất thỏa thuận sẽ đến Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm thủ tục thanh toán tiền để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Võ Xuân L đã đưa cho ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th số tiền là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng).

Sau khi lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thì ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th không đồng ý chuyển nhượng đất. Ông Võ Xuân L yêu cầu ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả lại số tiền là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) và làm giấy tay nhận tiền ngày 08/7/2024. Tuy nhiên từ thời gian đó cho đến nay, ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th vẫn chưa hoàn trả số tiền nêu trên.

Tại đơn khởi kiện ngày 31/12/2024, nguyên đơn ông Võ Xuân L yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho ông Võ Xuân L số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) và yêu cầu tính lãi suất chậm trả từ ngày 30/11/2022 đến ngày khởi kiện 30/8/2024 với mức lãi suất là 0.83%/tháng, tạm tính từ ngày 30/11/2022 đến ngày khởi kiện (30/8/2024) là 21 tháng với số tiền là 58.647.008 đồng (năm mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi bảy nghìn không trăm lẻ tám đồng).

Tuy nhiên tại phiên tòa, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho nguyên đơn ông Võ Xuân L số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 3 năm 2025, bị đơn ông Lý Si Q trình bày:

Năm 2021, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng buộc vợ chồng ông trả số tiền là 586.716.155 đồng (năm trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm mười sáu nghìn một trăm năm mươi lăm đồng) cho vợ chồng ông Võ Xuân L và bà Trịnh Thị Cẩm H. Tuy nhiên, vợ chồng ông không có khả năng để trả. Khi đó, ông và bà Trịnh Thị Cẩm H thỏa thuận đến Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh T để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do vợ chồng ông đang vay thế chấp cho Ngân hàng) chuyển nhượng sang tên cho vợ chồng ông Võ Xuân L, bà Trịnh Thị Cẩm H nhằm mục đích trừ số tiền còn nợ theo bản án đã tuyên. Theo thỏa thuận thì vợ chồng ông sẽ chuyển nhượng sang tên thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 04, diện tích là 7.250m2 cho vợ chồng ông Võ Xuân L. Tuy nhiên sau khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì con gái của ông không đồng ý chuyển nhượng sang tên. Ông không nhớ số tiền ông Võ Xuân L đã đưa cho ông là bao nhiêu, tuy nhiên ông thừa nhận chữ ký và chữ viết tên Lý Si Q trong giấy tay nhận tiền về việc trả nợ Ngân hàng ký vào ngày 08/7/2024 là của ông. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý, việc không thực hiện cam kết chuyển nhượng sang tên quyền sử dụng đất không phải lỗi của ông.

* Bị đơn bà Lâm Thị Chanh Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

* Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu mà nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H đã trình bày và giao nộp cho Tòa án.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa trình bày ý kiến:

- Về tố tụng: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Khi thụ lý vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L, buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả lại số tiền còn nợ. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ) xác định quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án đã làm rõ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xét thấy số tiền mà nguyên đơn ông Võ Xuân L yêu cầu, xuất phát từ số tiền ông Võ Xuân L đã đưa cho ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th nhận để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và được các bên thống nhất lập thành “Giấy tay nhận tiền về việc trả nợ Ngân hàng” ngày 08/7/2024. Mặt khác, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền còn nợ và không yêu cầu tính lãi suất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp đối với vụ án này là “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong vụ án, bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th cư trú tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (địa chỉ hiện nay là ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ) nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ thụ lý giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Xuân L chết ngày 23/7/2025 nên Hội đồng xét xử đã đưa hàng thừa kế thứ nhất của nguyên đơn gồm: Bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng và bà Võ Thị Mỹ N vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho ông Võ Xuân L số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) và không yêu cầu tính lãi suất. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Cẩm H.

Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào “Giấy tay nhận tiền” về việc trả nợ Ngân hàng ngày 08/7/2024 (bút lục số 13) do nguyên đơn cung cấp và tại biên bản lấy lời khai ngày 14/3/2025 (bút lục số 10 - 11), bị đơn ông Lý Si Q thừa nhận có nhận tiền của ông Võ Xuân L để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam vào ngày 30/11/2022 và chữ ký chữ viết tại “Giấy tay nhận tiền” ngày 08/7/2024 là của ông Lý Si Q. Hiện nay, ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th chưa trả số tiền nợ này cho ông Võ Xuân L. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 và khoản 1 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc xác định chứng cứ và những tình tiết sự kiện không phải chứng minh, Hội đồng xét xử công nhận ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th có nhận của ông Võ Xuân L số tiền là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng), với mục đích trả tiền cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là sự thật. Việc thỏa thuận giao nhận tiền giữa ông Võ Xuân L và ông Lý Si Q, bà Lâm Thị Chanh Th là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên từ thời điểm nhận tiền cho đến nay, ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th vẫn chưa trả số tiền nợ này, ông bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó việc nguyên đơn ông Võ Xuân L khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H không yêu cầu tính lãi suất, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 16.823.583 đồng (mười sáu triệu tám trăm hai mươi ba nghìn năm trăm tám mươi ba đồng). Nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 74, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N. Buộc bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th trả cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N số tiền còn nợ là 336.471.652 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N cho đến khi thi hành xong khoản tiền bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th phải thanh toán cho bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N nêu trên, hàng tháng ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn ông Võ Xuân L và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 16.823.583 đồng (mười sáu triệu tám trăm hai mươi ba nghìn năm trăm tám mươi ba đồng).

3. Về quyền kháng cáo bản án: Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H, bà Võ Thị Mỹ Ng, bà Võ Thị Mỹ N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Lý Si Q và bà Lâm Thị Chanh Th có quyền kháng cáo bản án này kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ