vanban.org

Bản án 31/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G.

Buộc chị Trần Thị G trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền hụi là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng). Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Trần Thị G không trả hoặc trả không đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị N thì bà Nga có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật và chị G còn phải tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "NGUYỄN THỊ N - TRẦN THỊ G"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/DS-ST
Ngày 12-5-2025
“V/v tranh chấp HĐ góp họ (hụi)”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội Thẩm nhân dân:

1- Bà Trần Thị Mộng Lành.

2- Ông Hà Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 63/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/01/1970 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T1, xã Đ1, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Chị Trần Thị G, sinh năm 1993 và anh Kiều Hoàng M, sinh năm 1991 (đều vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T1, xã Đ1, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày, yêu cầu như sau: Vào ngày 15/01/2021 âm lịch bà có tham gia chơi 01 chưng hụi do chị Trần Thị G và anh Kiều Hoàng M làm chủ, chưng hụi số tiền là 2.000.000đ/tháng xổ lần, gồm có 32 người tham gia, bà đã đóng hụi được 25 lần số tiền 50.000.000đ thì sau đó chị G và anh M úp dây hụi lại. Đến ngày 22/01/2024 âm lịch chị G có làm biên nhận nợ cho bà là còn nợ số tiền 50.000.000đ và cam kết sẽ trả cho bà hàng tháng số tiền 4.000.000đ, nhưng sau đó chị G và anh M chỉ trả cho bà được 01 lần số tiền 4.000.000đ còn lại 46.000.000đ đến nay không trả. Sự việc đã được Uỷ ban nhân dân xã Đông Yên giải quyết thì chị G cũng thừa nhận còn nợ bà số tiền 46.000.000đ nhưng không chịu trả.

Vì vậy, bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Trần Thị G và anh Kiều Hoàng M trả cho bà số tiền hụi 46.000.000đ (bốn mươi sáu triệu đồng).

Đối với bị đơn chị Trần Thị G và anh Kiều Hoàng M Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị G và anh M vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N.

Tại phiên toà hôn nay, bà Nguyễn Thị N trình bày và yêu cầu như sau: Bà N có thay đổi yêu cầu khởi kiện, là đồng ý khấu trừ cho chị G số tiền thảo 1.000.000đ, còn lại 45.000.000đ và chỉ yêu cầu chị Trần Thị G trả cho trả cho bà số tiền hụi là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) là dứt điểm. Bởi vì, trong biên nhận nợ, biên bản hoà giải của xã và sổ hụi chỉ có một mình chị Trần Thị G ký mà thôi, cón anh Kiều Hoàng M không có ký nên bà không yêu cầu anh M trả nợ cùng chị G.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G.

Buộc chị Trần Thị G trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền hụi là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của đương sự nội dung về việc “Tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi)” và bị đơn có nơi cư trú trên địa phận hành chính của huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ Điều 26 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Phần thủ tục tố tụng: Đối với chị Trần Thị G và anh Kiều Hoàng M được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với chị Trần Thị G và anh Kiều Hoàng M.

[3] Về nội dung vụ án: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G là có cơ sở. Bởi vì, vào ngày 15/01/2021 âm lịch bà N có tham gia chơi 01 chưng hụi do chị Trần Thị G làm chủ, bà đã đóng hụi được 25 lần số tiền 50.000.000đ thì sau đó chị G úp hụi và hai bên thoả thuận là chị G còn nợ bà N số tiền 50.000.000đ và cam kết trả cho bà N hàng tháng số tiền 4.000.000đ, nhưng sau đó chị Gấm chỉ trả được 4.000.000đ còn lại 46.000.000đ đến nay không trả. Đồng thời tại biên bản hoà giải của Uỷ ban nhân dân xã Đông Yên thì chị G cũng thừa nhận còn nợ bà N số tiền 46.000.000đ. Tại phiên toà hôm nay chị N đồng ý trừ tiền thảo 1.000.000đ (một triệu đồng) và chỉ yêu cầu chị Trần Thị G trả cho bà số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) mà không yêu cầu anh M trả.

Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G.

Buộc chị Trần Thị G trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền hụi là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị N được chấp nhận nên chị Trần Thị G phải chịu tiền án phí là 45.000.000đ x 5% = 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.150.000đ (một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), theo lai thu số: 0003548 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thị hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Xét về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 471và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của chính phủ về họ, hụi, biêu phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) đối với chị Trần Thị G.

Buộc chị Trần Thị G trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền hụi là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Trần Thị G không trả hoặc trả không đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị N thì bà Nga có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật và chị G còn phải trả thêm lãi cho bà N theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền còn lại kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án.

2- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị G phải chịu tiền án phí là 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.150.000đ (một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), theo lai thu số: 0003548 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thị hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

3- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bà N biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/5/2025). Đối với chị G và anh M vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ