vanban.org

Bản án 31/2025/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 19/02/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/02/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1; Ông Đặng Thành C1;

Đình chỉ t ph c th m đối với kháng cáo của bà Dương Thị K. S a Bản án dân s sơ th m số 04/2024/DS-ST ngày 01-02-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Trần Quế Thy và bị đơn Đặng Thành Lập"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1; Ông Đặng Thành C1;
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Đất đai; Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân s; Điều 166 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/DS-PT
Ngày: 19-02-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng, ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mai là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 19-02-2025, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận t ph c th m công khai v án dân s th lý số 56/2024/TLPT-DS ngày 04/4/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân s sơ th m số 04/2024/DSST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa v án ra t ph c th m số 177/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QĐ-PT ngày 11/9/2024, Quyết định t m ngừng phiên tòa số 66a/2024/QĐ-PT ngày 23/9/2024 và Thông báo thời gian m l i phiên tòa số 09/2025/TB-TA ngày 17/01/2025 giữa các đương s :

1. Nguyên đơn: Bà Trần Quế T, sinh năm 1973(có mặt).

Địa chỉ: tổ B, khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Minh T1, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: số D, N, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2 Bị đơn: Ông Đặng Thành L, sinh năm 1969 (có mặt).

Bà Trần Thị C, sinh năm 1972 (có mặt).

Cùng địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2.1.Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Nguyễn Vi V, sinh năm 1977 (có mặt). Địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2.2Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp : Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số I H, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1.Ông Đặng Thành C1, sinh năm 1973 (có mặt).

3.2.Bà Dương Thị K, sinh năm 1979 (vắng mặt).

3.3.Bà Đặng Thị Mỹ C2, sinh năm 1990 (vắng mặt).

3.4.Ông Đặng Thành L1, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Mỹ C2, ông L1: Bà Lê Nguyễn Vi V, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

4 Người làm chứng cho nguyên đơn:

1/Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1953 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2/Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1961 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3/Ông Nguyễn Văn C3, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

4/Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1947 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

5/Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H, ã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

6/Ông Trần Nguyên H1, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

7/Ông Đỗ Quang K1, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

8/Ông Bùi Văn L2, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

9/Ông Ph m Văn C4, sinh năm 1954 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng cho bị đơn:

1.Ông Võ Văn G, sinh năm 1971 ( có mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2.Ông Lê Văn T3, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3.Ông Bùi Văn Ố, sinh năm 1961 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

4.Bà Lê Thị L3, sinh năm 1952 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố S , thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

5.Ông Dương Văn H2, sinh năm 1946 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

7.Ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

8.Ông Trần Đình Q, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 10, phường Mũi N , thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

9.Ông Ph m Văn N, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

10.Ông Bùi Khắc P, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

11.Ông Trương Kỳ M1, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người kháng cáo: Ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C, ông Đặng Thành C1, bà Dương Thị K, bà Đặng Thị Mỹ C2, ông Đặng Thành L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Quế T trình bày:

Nguyên vào các năm từ năm 1999 đến năm 2001, bà Trần Quế T có nhận chuyển nhượng khoảng 4,4 h c ta đất tọa l c khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận của các hộ dân đang canh tác đất nông nghiệp t i địa phương để đầu tư d án du lịch. Các hộ dân đã sang nhượng đất cho T gồm: Hộ ông Ph m Văn C4, cư ng t i t i khu phố A, phường M; Vợ chồng ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị C5, cư ng t i khu phố L, phường M; Hộ ông Nguyễn Văn B cư ng t i khu phố S, phường M; Hộ ông Nguyễn Văn A, cư ng t i ã H, huyện B. Khi chuyển nhượng các bên có lập “Giấy thỏa thuận mua bán đất rẫy tại S”, vẽ bản đồ ác định diện tích và vị trí th a đất được khu phố S ký ác nhận việc chuyển nhượng. Khi nhận chuyển nhượng của 04 hộ dân thì bà T cũng lập Sơ đồ vị trí khu đất sang nhượng của các hộ được các hộ dân ký ác nhận vào vị trí ranh giới ác định vị trí các th a đất của mình đã sang nhượng.

Sau khi nhận sang nhượng thì bà T đã cắm cọc ác định vị trí diện tích đất và trồng một số cây phi lao và cây keo lá tràm để giữ đất đồng thời làm thủ t c thông báo với cơ quan quản lý đất đai, ban Q1 để m rộng d án resort T. Phòng Địa chính thành phố P có đến khu đất để đo vẽ lập bản đồ khu đất vào ngày 4/12/2001.

Đến năm 2002, bà T làm Đơn đề nghị ác nhận địa điểm và hiện tr ng đất để lập d án du lịch g i Ban Q2 th c hiện kiểm tra hiện tr ng t i khu đất của bà T để bà T tiến hành các thủ t c m rộng d án du lịch T do bà T làm chủ đầu tư. Ban Q2 đã th c hiện kiểm tra hiện tr ng và khi kiểm tra t i th c địa thì th a đất vẫn chưa bị ai lấn chiếm. Sau khi kiểm tra t i th c địa và lập sơ đồ vị trí kiểm tra, Ban Q2 đã ác nhận: “Vị trí và diện tích đất không nằm trong quy hoạch theo quyết định số 09”.

Năm 2004, bà T có tiến hành đo vẽ hiện tr ng khu đất để làm thủ t c in cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất. Theo bản đồ th a đất đo vẽ thì th a đất của bà T nằm tờ bản đồ số 114, th a đất số 33. Nhưng do vào năm 2004, t i khu v c này Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh chưa phân định ranh giới các quỹ đất quốc phòng, đất rừng phòng hộ, đất du lịch nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất của bà T thời điểm đó bị đình l i.

Đến năm 2019, bà T phát hiện ông Đặng Thành L lấn chiếm vào khu đất của bà T với diện tích khoảng 10.000m2.

Bà T đã làm đơn yêu cầu UBND phường M giải quyết việc ông Đặng Thành L lấn chiếm đất của bà T.

Vào các ngày 22/05/2019 và ngày 19/06/2019, UBND phường M đã kiểm tra hiện tr ng và vẽ sơ đồ ác định vị trí, diện tích đất tranh chấp.

Ngày 17/07/2019, UBND phường M đã tổ chức hòa giải nhưng không thành.

Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nguyên đơn bà Trần Quế T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên buộc ông Đặng Thành L và bà Trần Thị C chấm dứt việc lấn chiếm và giao trả cho bà Trần Quế T diện tích đất đã lấn chiếm là 10.000 m2 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P.

Ngày 06/02/2020, nguyên đơn bà Trần Quế T có đơn yêu cầu kh i kiện bổ sung về diện tích đất đang tranh chấp là 13.313,3 m2. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, phía nguyên đơn t nguyện hỗ trợ số cây ông L mới trồng trên đất và nhà t m, giếng khoan trong thời gian đất bị ông L chiếm và tranh chấp với số tiền là 115.710.000 đồng.

*Bị đơn ông Đặng Thành L và bà Trần Thị C trình bày:

Đầu năm 2003, ông L có khai hoang một th a đất t i khu phố L, phường M thành phố P tỉnh Bình Thuận. Diện tích khoản 10.000m2 trước khi ông L khai hoang khu đất này là rừng tràm nước chưa ai canh tác. Vị trí th a đất thời điểm đó. Tứ cận: Đông giáp Rừng tràn nước, Tây giáp ông T4 + tràm nước, Nam giáp ông T4, Bắc giáp tràm nước. Quá trình canh tác ông L trồng các lo i cây như Điều, keo lá tràm, D, S, S1, X, D1, C6 và một số hoa màu khác, một căn nhà, một giếng nước. Ông L khai hoang năm 2003 và canh tác liên t c không ai tranh chấp có nhiều người biết, mãi đến giữa năm 2019 thì bà Trần Quế T đến tranh chấp th a đất nói trên và kh i kiện ra Toà, cho rằng ông lấn chiếm đất của bà. Việc bà T cho rằng ông lấn chiếm đất của bà là hoàn toàn không đ ng vì t i thời điểm ông chưa khai hoang khu này là rừng tràm nước chưa ai canh tác. Vị trí th a đất hiện t i tứ cận. Đông giáp đường nh a, tây giáp ông T3 + DAP Hiệp, Nam giáp ông T4, Bắc giáp đường sỏi.

Bị đơn đề nghị Toà án giám định tuổi giấy, tuổi m c đối với các giấy tờ nguyên đơn cung cấp gồm Giấy mua bán đất rẫy lập ngày 17/03/2001 của ông Ph m Văn C4, Giấy thoả thuận mua bán đất rẫy t i suối nước lập ngày 19/11/1999 của ông Nguyễn Văn A, Giấy sang nhượng đất canh tác lập ngày 01/05/2001 của ông Nguyễn Văn B và giám định chữ ký, chữ viết của ông B, ông A, ông C4.

Bị đơn đề nghị Toà án bác yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.

* Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan ông Đặng Thành C1 trình bày:

Vào năm 2003, ông Đặng Thành L là anh trai ông có khai hoang th a đất có diện tích 13.325,3m2 t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian đầu ông L khai phá nơi này toàn rừng tràm nước um tùm, ông là người tr c tiếp cùng vợ chồng ông L canh tác trồng trọt và được vợ chồng ông L trả lương cho ông với vợ ông từ năm 2003 đến bây giờ và hiện nay vẫn còn làm thuê cho vợ chồng anh L. Từ năm 2003, vợ chồng ông cùng vợ chồng ông L canh tác trồng trọt các cây ngắn ngày và cây Đ1, cây keo, cây Xanh, cây Si trên đất, các ông có làm căn nhà t m trên th a đất này để , do hiện nay chỗ khu v c này chưa có điện thắp sáng nên ban đêm các ông về nhà gần đó để . Ông cùng vợ chồng ông L canh tác t i th a đất này liên t c, ổn định từ 2003 cho đến nay. Vào năm 2019, Bình Thuận sốt đất, việc mua bán đất diễn ra sôi động làm đất P tr nên có giá trị thì bà T kh i kiện ông L cho rằng đất ông L đang canh tác là đất của bà T và bà T cho giang hồ tới gây rối, hâm dọa, quậy phá, chặt phá cây của ông L, do ông là người làm t i đất nên ông chứng kiến và việc họ quậy phá, huỷ ho i cây của ông L đã được ghi hình l i. Ông nghe ông L cho biết là bà T nộp cho Toà giấy mua đất từ ông Nguyễn Văn B. Bà T và ông B là thông gia với nhau nhưng ông B l i là người ký giấy bán đất cho bà T. Ông Nguyễn Văn A, ông Ph m Văn C4, vợ chồng ông H3, những người này đều không có đất t i th a đất nơi vợ chồng ông L đã khai hoang nên ông cho rằng họ thông đồng với bà T để chiếm đất ông L khi thấy đất t i khu v c này có giá trị, b i vì trước khi vợ chồng ông L khai thác thì t i vị trí đất này vào năm 1980 đã có một công ty có tên cây có Dầu họ trồng chủ yếu cây D1, sau thời gian khá dài không biết vì sao không ho t động nữa và khu đất này tr thành rừng tràm nước um tùm trước khi các ông khai thác. Việc bà T nói th a đất này bà T đã mua từ năm 1999 và năm 2001, vậy t i sao từ năm 2003 đến năm 2019 bà T không ngăn cản ông L trồng cây trên đất; không có đơn trình báo đến UBND phường để kiện ông L; trong khi bà T có cơ s kinh doanh dịch v lưu tr ngắn ngày t i khu phố L, bà rất dễ dàng phát hiện người khác canh tác trên đất của bà, bên c nh đó vị trí đất bà đang kinh doanh gần th a đất của vợ chồng ông L đang canh tác, s d ng từ năm 2003; t i sao bà không phát hiện có người khác canh tác s d ng trên đất của mình. Hơn nữa diện tích đất bà T cho rằng đã mua của ông C4, phần diện tích đất này hiện nay là D án P và D án này được nhà nước cấp giấy ph p ho t động khoảng năm 2008, các ông khai hoang th a đất này trước khi có D án P. Qua s trình bày trên và việc biết rất rõ nguồn gốc th a đất đang bị tranh chấp vì ông sống từ nhỏ đến lớn t i khu v c này nên ông cam đoan trước toà th a đất có diện tích 13.325,3m2, to l c: khu phố L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận không phải có nguồn gốc từ bà T mua l i của ông C4, ông B, ông A, những người bán đất thông đồng với bà T để t o chứng cứ giấy bán tay để đi kiện ông L nhằm gây cản tr cho cuộc sống gia đình của ông L chứ trên th c tế các ông C4, ông B, ông A không có đất để bán cho bà T. Ông yêu cầu Toà án bác yêu cầu kh i kiện của bà T, đây là mồ hôi, công sức của gia đình anh em ông, nếu không phải đất của các ông t khai hoang, ph c hóa thì không bao giờ bỏ thời gian 20 năm để cải t o, trồng trọt và quản lý s d ng đến tận bây giờ.

Trong quá trình giải quyết v án, ông Đặng Thành C1 ác định vợ chồng ông làm thuê cho ông L, bà C để lấy tiền lương. Đề nghị Toà án bác yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, trả l i đất cho ông Đặng Thành L và bà Trần Thị C.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị K trình bày giống như lời trình bày của ông Đặng Thành C1.

*Bà Đặng Thị Mỹ C2 trình bày:

Phần đất mà bà T kh i kiện cha ông bà có nguồn gốc do cha mẹ bà khai hoang từ những năm 2003. Bà có ph cho cha mẹ làm vườn l c đó bà còn học cấp II; l c bấy giờ bà thấy cha, mẹ trồng cây đào và cây keo lá tràm trên đất. Ngoài ra, trừ thời gian bận đi học, bà cũng đã theo cha mẹ ra vườn chơi và ph với cha mẹ, khi bà lên cấp III vào Phan Thiết học và sau đó vào S học Trung cấp kế toán. Tuy nhiên, đến kỳ nghĩ hè bà về thăm nhà đều ra ph cha, mẹ và làm vườn t i nơi khu v c đất bà T đang tranh chấp. Năm 2012 bà có gia đình và có con nên nhà chăm con, nên không có thời gian ph gi p cha bà làm vườn nữa. Bà biết rất rõ là từ khi cha mẹ bà khai hoang, quản Lý s d ng th a đất này cho đến nay bà T không một lần gh thăm đất mà bà đang tranh chấp với cha mẹ bà. Th a đất này là của cha mẹ bà t khai hoang có sức đóng góp công sức của ch thím bà và chị em bà, toàn bộ số cây trồng trên đất của cha mẹ bà hiện nay đều do gia đình bà và ch thím trồng. Những người có vườn kế nhà bà là vợ chồng chú Ố, chú T3, chú T4 và một số người khác, bà không nhớ tên và những người dân sống gần th a đất của cha mẹ bà làm chứng, bà chưa bao giờ thấy bà T ghé đến vườn nhà bà. Do vậy, việc bà T cho rằng đất này là do bà T mua l i của người khác và kh i kiện cha, mẹ bà là không có căn cứ và âm ph m đến quyền lợi của gia đình bà, nên bà đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà T.

* Ông Đặng Thành L1 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của bà Đặng Thị Mỹ C2.

Đối tượng đất tranh chấp có diện tích là 13.313,3 m2 thuộc th a số 33, tờ bản đồ 114 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo bản trích đo đ c hiện tr ng khu đất ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T6 và ĐO ĐẠC HTB.

T i biên bản em t th m định t i chỗ ngày 09/01/2020 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết như sau ( em t th m định t i chỗ theo yêu cầu nguyên đơn).

Về đất đai: phần đất nguyên đơn kh i kiện bị đơn có diện tích khoảng 10.000m2 nằm trong th a đất số 33, tờ bản đồ số 114, diện tích 17,142,90m2, m c đích s d ng đất trồng cây lâu năm keo lá tràm, điều… nhà t m. Việc đo đ c do Công ty TNHH T7 th c hiện. Đội đo đ c sẽ tiến hành đo đ c phần đất tranh chấp theo chỉ dẫn mốc ranh giới đất của nguyên đơn, bị đơn. Công ty TNHH T7 chịu trách nhiệm về bản vẽ đã đo đ c. Về tài sản: nhà t m, kiềng đá chẻ, 01 giếng khoan, cây cối hoa màu: keo lá tràm 100 cây (tỷ lệ 60% cây lớn) Điều 100 cây đã thu ho ch trên 15 năm, Phi lao 200 cây lớn, cây sanh - si 03 cây nhỏ + 01 cây lớn, D1 mới trồng 33 cây, X mới trồng 50 cây.

T i biên bản em t th m định t i chỗ ngày 22/12/2022 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết như sau ( em t th m định t i chỗ theo yêu cầu bị đơn).

Về đất đai: Th a đất đang tranh chấp nằm trong tờ bản đồ số 114, Mũi N . Diện tích đo đ c vào ngày 09/01/2020 là 13.313,3m2 trên đất có 1 căn nhà t m tôn kẽm, cột cây, mái tôn, vách tôn, nền lát g ch bát tràng. Diện tích khoảng 36m2, cây cối hoa màu trồng trên đất gồm: cây Điều 123 cây (đã thu ho ch cây trồng khoảng 15 năm), cây Keo lá tràm 39 cây lo i A, Phi lao 166 lo i A, cây Xoài 77 cây trồng khoảng 4 năm, Dừa 49 cây trồng khoảng 5 năm, Si 04 cây (01 cây lớn +3 cây nhỏ), B ch đàn lo i A 14 cây, Mãng cầu 18 cây trồng khoảng 4 năm. Vật kiến tr c 01 giếng khoan chiều sâu khoảng 6m.

T i chứng thư th m định giá ngày 27/9/2023 của Công ty cổ phần T8 và Tư vấn đầu tư Việt Nhật như sau: Th a đất số 33, tờ bản đồ số 114 diện tích 13.313,3m2, đơn giá 4.700.000đồng/m2 thành tiền 62.572.510.000 đồng. Tài sản trên đất nhà t m: 22.140.000 đồng; giếng khoan trị giá 13.000.000 đồng; cây keo lá tràm lo i A trị giá 1.755.000đồng, Phi lao lo i A trị giá 8.964.000 đồng, X 4 năm trị giá 54.670.000 đồng, D1 5 năm trị giá 19.600.000 đồng, S trị giá 480.000 đồng, B ch đàn trị giá 630.000 đồng, cây Điều cao trị giá 49.200.000 đồng, Mãng cầu 4 năm trị giá 6.300.000 đồng. Tổng cộng tiền cây là 176.739.000 đồng. Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 62.749.200.000 đồng. (Th m định giá theo biên bản em t th m định t i chỗ ngày 22/12/2022 của bị đơn).

T i Công văn số 18/CV – HTB ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T7; Công văn số 618/UBND –ĐĐ ngày 22/9/2023 của UBND phường M; Biên bản làm việc ngày 25/9/2023 của UBND thành phố P và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P đính chính trả lời vị trí đất tranh chấp trước đây gọi là khu v c L - S, phường M nay là khu phố L, phường M, thành phố P.

Sau khi hòa giải không thành, Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết đưa v án ra t t i Bản án số 04/2024/DSST ngày 01 tháng 02 năm 2024 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết, quyết định:

1/Căn cứ vào: khoản 09 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 6, khoản 04 Điều 91, Điều 92, Điều 157, 159, Điều 165, Điều 210, Điều 211, Điều 233, Điều 235, Điều 254 Bộ Luật Tố t ng dân s năm 2015; Điều 155, Điều 189, Điều 221, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân s 2015; Điều 101, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ –CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Trần Quế T.

- Xác định diện tích đất 13.313,3m2 th a đất số 33, tờ bản đồ số 114 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có tứ cận như sau phía Đông giáp đường nh a (đường X), Tây giáp đất bà Trần Quế T, Nam giáp đất ông Nguyễn T4, Lê Văn T3 (đất đang tranh chấp), Bắc giáp đất Trần Quế T thuộc quyền s d ng của bà Trần Quế T (kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T6 VÀ ĐO ĐẠC HTB).

- Buộc ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng 2 con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1 giao trả l i diện tích đất 13.313,3m2 th a đất số 33, tờ bản đồ số 114 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có tứ cận như sau phía Đông giáp đường nh a (đường X), Tây giáp đất bà Trần Quế T, Nam giáp đất ông Nguyễn T4, Lê Văn T3 (đất đang tranh chấp), Bắc giáp đất Trần Quế T cho bà Trần Quế T (kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T6 VÀ ĐO ĐẠC HTB).

- Buộc ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng 2 con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1 tháo dỡ di dời căn nhà t m, giếng khoan để trả l i đất cho bà Trần Quế T.

- Ghi nhận s t nguyện hỗ trợ của bà Trần Quế T cho số tiền 115.710.000 đồng cho ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng 2 con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1.

Bà Trần Quế T có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có th m quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định pháp luật đất đai.

Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về án phí, chi phí tố t ng, nghĩa v thi hành án và quyền kháng cáo của các đương s .

Sau khi t sơ th m, bị đơn ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Đặng Thị Mỹ C2, ông Đặng Thành L1, ông Đặng Thành C1, bà Dương Thị K kháng cáo toàn bộ bản án sơ th m, đề nghị Tòa án cấp ph c th m hủy toàn bộ bản án sơ th m do vi ph m nghiêm trọng thủ t c tố t ng.

T i quyết định số 45/QĐ-VKS-KN ngày 06-02-2024 Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết kháng nghị bản án dân s sơ th m số 04/2024/DSST ngày 01-02-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, vì có vi ph m nghiêm trọng về thủ t c tố t ng và về ác minh, đánh giá công khai tài liệu, chứng cứ trong v án làm căn cứ giải quyết v án. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận hủy Bản án dân s sơ th m số 04/2024/DSST ngày 01/02/2024 và chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giải quyết l i theo thủ t c sơ th m.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn, ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C, người đ i diện của người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Đặng Thị Mỹ C2, ông Đặng Thành L1 và ông Đặng Thành C1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bà Dương Thị K vắng mặt không trình bày ý kiến.

- Phía bị đơn đề nghị Hội đồng t ph c th m: t m ngừng phiên tòa, yêu cầu bà Trần Quế T cung cấp các chứng cứ gốc mà bà T đã photo ra để nộp cho Tòa án. Bị đơn nghi ngờ chứng cứ này đều không rõ ràng, có dấu hiệu giả m o, không cùng thời điểm làm đơn. Nếu nguyên đơn từ chối không đưa ra các chứng cứ gốc đề nghị không thừa nhận các chứng cứ của nguyên đơn nộp cho Tòa án. Do chứng cứ không hợp nên việc mua bán đất của nguyên đơn bằng giấy tay là không hợp pháp, thời điểm mua đất, th a đất tranh chấp là đất rừng do nhà nước quản lý nên việc chuyển nhượng là không đ ng. Bị đơn đề nghị Hội đồng t t m đình chỉ t v án, yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản gốc các chứng cứ để đi giám định. Đồng thời chờ kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B giải quyết đơn tố giác tội ph m đối với bà Trần Quế T, là nguyên đơn trong v án về hành vi lừa đảo chiếm đo t tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội s d ng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức, chờ kết quả giải quyết đơn tố cáo của bị đơn đối với cán bộ, công chức phường M, UBND thành phố P về việc ký các văn bản và ác nhận trong các tài liệu của bà T. Nếu Hội đồng t

vẫn t đề nghị hủy bản án dân s sơ th m của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, nếu thấy có dấu hiệu hình s chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra lý.

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, bị đơn không có giấy tờ về đất để chứng minh quyền s d ng đất, đề nghị Hội đồng t

không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ nguyên bản án dân s sơ th m của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Về việc t m đình chỉ giải quyết v án chờ kết quả điều tra thì nguyên đơn cho rằng việc điều tra của cơ quan điều tra không ảnh hư ng đến kết quả giải quyết v án. Ngoài các chứng cứ bị đơn không thừa nhận, thì nguyên đơn còn có chứng cứ khác chứng minh cho yêu cầu kh i kiện của mình là có căn cứ. Vì vậy nguyên đơn không đồng ý t m đình chỉ giải quyết v án.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết v án giai đo n ph c th m và quan điểm giải quyết v án: Thư ký, Th m phán, Hội đồng t đã tuân thủ đ ng pháp luật tố t ng; người tham gia tố t ng th c hiện đ ng quyền và nghĩa v theo quy định của Bộ luật tố t ng dân s . Về nội dung: Kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là có căn cứ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận t m đình chỉ giải quyết v án theo quy định t i điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố t ng dân s , lý do: chờ Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B giải quyết đơn tố giác tội ph m đối với bà Trần Quế T, về hành vi lừa đảo chiếm đo t tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội s d ng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng t t m đình chỉ giải quyết v án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có t i hồ sơ v án đã được th m tra, ác minh t i phiên tòa ph c th m, căn cứ kết quả tranh t ng và đề nghị của Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng t (HĐXX) nhận định:

Về thủ t c tố t ng: Đương s kháng cáo trong thời h n và đ ng quy định pháp luật nên v án được em t theo thủ t c ph c th m. Tòa án sơ th m ác định quan hệ pháp luật tranh chấp và th lý giải quyết là đ ng quy định t i khoản 09 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố t ng dân s .

Người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Dương Thị K vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, phiên tòa được m l i lần thứ 3, do đó HĐXX đình chỉ t

phần kháng cáo của bà K và t vắng mặt đương s này theo quy định t i khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân s .

Về đơn yêu cầu em t th m định t i chổ của bị đơn, HĐXX thấy rằng, trong quá trình giải quyết t i cấp sơ th m, Tòa án sơ th m đã 2 lần đi em t th m định t i chổ ngày 09/01/2020 và ngày 22/12/2022. Ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T6 và ĐO ĐẠC HTB tiến hành đo đ c th a đất. T i chứng thư th m định giá ngày 27/9/2023 của Công ty cổ phần T8 tiến hành định giá tài sản. T i phiên tòa ph c bị đơn vẫn không có ý kiến gì về việc th m định t i chổ. X t việc th m định, đo đ c và định giá tài sản là khách quan, các đương s không khiếu n i trong quá trình giải quyết t i cấp sơ th m nên HĐXX cấp ph c th m không cần thiết phải đi th m định t i chổ.

Về yêu cầu t m ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết đơn tố cáo ông Bùi Ngọc L4, Phó Chủ tịch UBND phường M của Thanh tra thành phố P t i biên bản ngày 17/02/2025, HĐXX nhận thấy ác nhận của Phó Chủ tịch UBND phường M ngày 10/12/2019 ác nhận: ông Nguyễn Văn A, CMND số 260229706 cam đoan đã hiểu, tự chịu trách nhiệm về nội dung của giấy cam kết, và đã điểm chỉ vào giấy cam kết này trước mặt tôi. Như vậy chứng th c này không ác nhận nội dung của Giấy ác nhận ngày 20/11/2019 của ông Nguyễn Văn A. Việc giải quyết khiếu tố cáo của ông L đối với cán bộ công chức UBND phường M, UBND thành phố P không ảnh hư ng đến việc giải quyết v án nên HĐXX không chấp nhận t m ngừng phiên tòa. [4] Về việc đề nghị t m đình chỉ t ph c th m: Ngày 04/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có văn bản số 03/YC-VKS-DS và ý kiến của Kiểm sát viên t i phiên tòa ph c th m, đề nghị Tòa án t m đình chỉ giải quyết v án theo điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố t ng dân s với lý do cần đợi kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội ph m của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B vì có đơn tố cáo bà Trần Quế T có hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức nhằm chiếm đo t tài sản của công dân, có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Kèm theo văn bản số 03/YC-VKS-DS ngày 04/9/2024 là biên bản làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận ngày 26/8/2024, bản phô tô hóa đơn giá trị gia tăng số 0016516 ngày 13/7/2019 (b t l c 578) và hóa đơn số 0016518 ngày 15/7/2019 (bút l c 577). So sánh với tài liệu mà Viện kiểm sát thu thập và tài liệu nguyên đơn giao nộp t i hóa đơn số 0016518 (b t l c số 543) và hóa đơn số 0016516 (b t l c 542) thì thấy các tài liệu này có điểm không trùng nhau như tên hàng hóa, dịch v , năm phát hành hóa đơn. X t thấy 2 hóa đơn này là bản phô tô, Tòa án cấp sơ th m không s d ng tài liệu này để giải quyết yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. HĐXX cấp ph c th m cũng không s d ng chứng cứ này vì đây không phải là một trong các lo i giấy tờ về đất đai. Do vậy, việc giải quyết tin báo tội ph m liên quan đến các hóa đơn nêu trên không ảnh hư ng đến việc giải quyết v án dân s này. Từ khi có tin báo văn bản số 03/YC-VKS-DS, dù HĐXX đã t m ngừng phiên tòa từ ngày 23/9/2024, đến nay đã hơn 05 tháng mà vẫn chưa có kết quả giải quyết tin báo của cơ quan điều tra. Do vậy, không có căn cứ để t m đình chỉ t ph c th m v án dân s như đề nghị của Viện kiểm sát và bị đơn. [5] Ngoài ra trong hồ sơ, t i phiên tòa sơ th m, bà T còn nộp hai chứng cứ có s khác nhau là Đ2 đề nghị ác nhận địa điểm và hiện tr ng đất để lập d án du lịch ngày 24/02/2002 g i UBND phường M thể hiện t i hai b t l c số 297 và b t l c số 320. Hai b t l c có cùng nội dung nhưng phần b t phê góc trái trên và dưới có s chỉnh s a. HĐXX t thấy nội dung chứng cứ có s s a chữa nên không s d ng chứng cứ này để nhận định.

Về kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đề nghị hủy bản án sơ th m với lý do Tòa án cấp sơ th m đã vi ph m nghiêm trọng thủ t c tố t ng trong việc thu thập, ác minh, công khai tài liệu, chứng cứ, bị đơn nghi ngờ chứng cứ do nguyên đơn giao nộp là giả t o và có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của người đứng tên bán đất cho nguyên đơn nhưng Tòa án cấp sơ th m không th c hiện. Ngoài ra bị đơn yêu cầu giám định tuổi m c, giám định chữ viết và chữ ký trong các tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp là các giấy mua bán, sang nhượng đất viết tay giữa nguyên đơn với các chủ đất cũ. HĐXX t thấy: Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản gốc các tài liệu nhưng nguyên đơn không đồng ý cung cấp để lưu hồ sơ v án mà chỉ cung cấp bản gốc để Tòa án, Viện kiểm sát, bị đơn em, sao ch p, đối chiếu với bản chính để trả l i cho nguyên đơn. Do nguyên đơn không giao nộp, nên Tòa án không có tài liệu gốc cần giám định nên cấp sơ th m đã không ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết theo yêu cầu của bị đơn là đ ng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu giám định tuổi m c, tuổi giấy t i công văn số 958/PC09-GĐ (bl 430) ngày 20/10/2023 Phòng K2 Công an tỉnh B không giám định được tuổi m c, tuổi giấy. Hiện t i các cơ quan giám định tư pháp về kỹ thuật hình s trong ngành công an chưa triển khai giám định về lĩnh v c này.

Về việc bị đơn có yêu cầu giám định thời gian uất hiện của văn bản, chữ viết và chữ ký trong các tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp là các giấy mua bán, sang nhượng đất viết tay giữa nguyên đơn với các chủ đất cũ. T i công văn số 812/PC09 ngày 29/8/2024 Phòng K2 Công an tỉnh B trả lời cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận ác định chưa th c hiện giám định thời gian uất hiện của văn bản, chữ viết và chữ ký trên văn bản. HĐXX nhận thấy: Các giấy mua bán, sang nhượng đất viết tay giữa nguyên đơn với các chủ đất cũ mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án cấp sơ th m và được Th m phán ký ác nhận đã đối chiếu bản chính. Đây không phải là chứng cứ duy nhất để chứng minh quyền s d ng đất của nguyên đơn. Việc có các tài liệu này hay không có các tài liệu này cũng không làm thay đổi bản chất của v án, b i chủ đất cũ đều thừa nhận việc chuyển nhượng cho bà T nên việc có giám định hay không giám định theo yêu cầu của bị đơn cũng không có ý nghĩa cho việc giải quyết v án. Việc Tòa án cấp sơ th m không giám định không phải là vi ph m nghiêm trọng thủ t c tố t ng.

Về nội dung tranh chấp giữa các đương s : HĐXX nhận thấy, tranh chấp giữa các đương s là về th a đất có diện tích là 13.313,3m2 to l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi lấn chiếm và trả l i th a đất cho nguyên đơn.

Về giấy tờ chứng minh quyền s d ng đất và quá trình s d ng đất của bị đơn: ông L, bà C không có các lo i giấy tờ về đất để được công nhận quyền s d ng đất. Ông L trình bày đã khai hoang th a đất từ năm 2003, nhưng không được chính quyền địa phương ác nhận, mà chỉ có ác nhận của những người s d ng đất liền kề là các ông Bùi Văn Ố, ông Lê Văn T3, ông Võ Văn G. Ngoài lời trình bày của những người làm chứng trên thì bị đơn không đưa ra được tài liệu nào phù hợp với lời khai của người làm chứng, tài liệu chứng minh thời điểm bắt đầu s d ng đất từ năm 2003. Trong khi đó ông T3, ông Ố cũng là bị đơn đang tranh chấp trong các v án khác do bà Trần Quế T kh i kiện. Việc giám định tuổi cây trên là 20 năm để ác định ông L, bà C là người s d ng đất là không có cơ s b i bị đơn không cung cấp bất cứ chứng cứ phù hợp để ác định số cây trên đất là do mình trồng.

Bị đơn cho rằng mình ây d ng nhà, làm giếng khoan, hệ thống tưới năm 2003 đến năm 2005 là không có cơ s b i vì các biên bản xác minh, phác thảo hiện trang của UBND phường M ngày 22/5/2019 (b t l c số 29) khi giải quyết tranh chấp từ năm 2018 đến năm 2019 đều không có thể hiện các tài sản này. Thời điểm ngày 22/5/2019 trên đất chỉ có một số cây keo lá tràm, đào, cây b i t p và một số cây oài, dừa chuối mới trồng. Ông L cho rằng năm 2018 địa phương lập biên bản đối với ông, theo biên bản ngày 12/11/2018 của UBND phường M lập theo khiếu n i của công ty P2 thì ông L và một người ph nữ (không rõ lai lịch) đến chặt phá cây phi lao của công ty T9, có dấu hiệu lấn chiếm đất (b t l c 498). T i biên bản lập ngày 15/11/2018 của UBND phường M do địa chính phường thể hiện : vị trí đất giáp ranh đường X (gần cổng công ty P2) có một số nhánh cây khô tạo thành hàng rào, làm ranh bao chiếm đất xung quanh. Bên trong đất có một số nhánh cây dương bị chặt và trồng một số cây bạch đàn con (bạch đàn út), cây xoan, cây đào…”. Như vậy ông L, bà C không có giấy tờ về đất cũng không có tài liệu nào chứng minh thời điểm bắt đầu s d ng đất năm 2003, các biên bản ác minh năm 2018 của UBND phường M xác định ông L đã chặt phá cây, lấn chiếm đất. Sau đó năm 2019 UBND phường M hòa giải tranh chấp giữa bà T với ông L và các đương s khác. Do đó năm 2019 việc bà T phát hiện ông L bắt đầu lấn chiếm đất là có cơ s , vì vậy ông L, bà C không có quyền s d ng đối với diện tích đất tranh chấp.

Về giấy tờ chứng minh quyền s d ng đất và quá trình s d ng đất của của nguyên đơn: Diện tích 13.313,3m2 đang tranh chấp là bà Trần Quế T nhận chuyển nhượng đất rẫy của hộ ông Nguyễn Văn A với diện tích khoảng 7.500m2 và hộ ông Nguyễn Văn B diện tích khoảng 2,6 ha, cả 2 th a đất to l c t i khu phố L - S - phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bà Trần Quế T cung cấp nhiều lo i giấy tờ liên quan đến th a đất tranh chấp như sau:

- Giấy cam đoan nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn B ngày 29/5/2001 (bản sao y công chứng); giấy sang nhượng đất canh tác ngày 01/5/2001; sơ đồ vị trí khu đất (bản pho to), biên bản ác minh nguồn gốc đất của UBND phường M ngày 21/5/2019 (bản pho to).

- Giấy cam đoan nguồn gốc đất ông Nguyễn Văn A, Phan Thị N1 tháng 3 năm 2001 (bản sao y công chứng); (người làm chứng Phan Thị N1) trong giấy thoả thuận mua bán đất rẫy ngày 19/11/1999 (bà T đang giữ bản chính, bản chính đã được đối chiếu t i phiên Toà sơ th m); sơ đồ vị trí khu đất (bản phô tô), giấy ác nhận nguồn gốc đất sang nhượng t i Suối Nước ngày 20/11/2019 (bản sao y công chứng).

- Bản đồ vị trí tỷ lệ 1/2000, chủ s d ng Trần Quế T do Phòng Địa chính thành phố Phan Thiết lập ngày 04/12/2001 (bản sao có chứng th c).

HĐXX t thấy: mặc dù bị đơn nghi ngờ các giấy tờ này là không khớp về thời gian uất hiện, việc mua bán giấy tay là không hợp pháp, thời điểm mua bán đất do nhà nước quản lý. Tuy nhiên nếu không có giấy tờ này thì giữa các bên tham gia sang nhượng đất đều thừa nhận việc mua bán đất, thời điểm mua bán hoàn toàn phù hợp với thời điểm UBND phường M ác minh nguồn gốc và quá trình s d ng đất của các bên.

Ngoài ra, việc chứng minh nguồn gốc đất đang tranh chấp là của nguyên đơn nhận chuyển nhượng của các hộ dân được thể hiện t i lời khai của những người trước đây đã từng là khu phố trư ng – phó nơi có đất đang tranh chấp, những người có đất liền kề và người công tác t i phòng Nông Lâm Nghiệp thị ã P trước đây biết rõ về nguồn gốc đất của các hộ dân làm rẫy đã chuyển nhượng l i cho phía nguyên đơn. Đồng thời ông Nguyễn Văn C3 nguyên trước đây là Trư ng phòng kỹ thuật của Ban quản lý bảo vệ và trồng rừng P đơn vị quản lý rừng giáp đất tranh chấp thể hiện việc gi p bà T trồng cây trên đất, ác định ranh giới đất của chủ cũ và bà T. Như vậy, với các tài liệu mà nguyên đơn cung cấp như trên thì Tòa án cấp sơ th m khẳng định bà T đã s d ng diện tích đất tranh chấp từ năm 2001 là hoàn toàn có căn cứ, nhưng qua đó cũng thể hiện s thiếu quản lý chặt chẽ tài sản của bà T để người dân lấn chiếm đất. Trong khi đó chứng cứ về việc tác động đến đất của ông L, bà C chỉ uất hiện từ năm 2018 vì lý do s thiếu quản lý đất đai của bà T.

Trong quá trình giải quyết v án, Tòa án cấp sơ th m đã có các công văn g i chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan để ác định nguồn gốc và quá trình quản lý, s d ng đất. Trong quá trình giải quyết v án, t i cấp ph c th m UBND thành phố P có văn bản số 6161/UBND-NC ngày 11/9/2024 thu hồi công văn số 6223/UBND-NC ngày 08/11/2022. Ngày 17/9/2024 UBND thành phố P ban hành văn bản số 6294/UBND-NC g i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết trả lời về một số nội dung liên quan đến th a đất tranh chấp. Mặc dù UBND thành phố P thay đổi một số nội dung trước đây đã trả lời cho tòa án cấp sơ th m nhưng văn bản số 6294/UBND-NC ngày 17/9/2024 không làm thay đổi tính chất pháp lý của th a đất có diện tích 13.313,13m2 là đất chưa có quy ho ch, không bị thu hồi, nằm ngoài 3 lo i rừng và đất chưa được cấp giấy chứng nhận. Do đó tình tiết này không làm thay đổi đến quyết định của Tòa án cấp sơ th m.

Như vậy, HĐXX thấy rằng th a đất tranh chấp có nguồn gốc đất hoang hóa, mọi người dân đều có thể đến canh tác, cho đến thời điểm phát sinh tranh chấp năm 2018, các bên đương s đều không sinh sống và trên đất, chỉ cho rằng mình khai hoang và canh tác. Bên nào cũng cho rằng mình khai hoang thì phải có chứng cứ để chứng minh quá trình s d ng đất. Với phân tích như trên, bị đơn không có đầy đủ chứng cứ cho rằng mình s d ng đất từ năm 2003 đến năm 2018, trong khi đó nguyên đơn có đủ căn cứ ác định thời điểm và quá trình s d ng đất từ năm 2001.

Từ những nhận định trên kháng cáo của các đương s , kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và ý kiến của Kiểm sát viên t i phiên tòa không được HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Tòa án cấp sơ th m buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân s sơ th m đối với số tiền mà nguyên đơn t nguyện hỗ trợ cho bị đơn là không phù hợp, nên HĐXX s a một phần bản án sơ th m về phần án phí. Do bản án bị s a nên người kháng cáo không phải nộp án phí dân s ph c th m .

Về chi phí em t th m định t i chỗ và đo đ c: Yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí này nhưng do nguyên đơn đã nộp t m ứng nên tòa án sơ th m buộc bị đơn phải trả l i số tiền này cho nguyên đơn là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 3 Điều 296, Khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân s ;

2.Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1; Ông Đặng Thành C1;

- Đình chỉ t ph c th m đối với kháng cáo của bà Dương Thị K.

- S a Bản án dân s sơ th m số 04/2024/DS-ST ngày 01-02-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

3. Căn cứ: khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân s ;

- Điều 189, 221, 357, 468 Bộ luật dân s năm 2015;

- Điều 101, 166, 170, 179, 203 Luật đất đai năm 2013

- Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013;

- khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội;

- Luật Thi hành án dân s .

4.Tuyên xử:

4.1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Trần Quế T:

- Xác định diện tích đất 13.313,3m2 th a đất số 33, tờ bản đồ số 114 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có tứ cận như sau phía Đông giáp đường nh a (đường X), Tây giáp đất bà Trần Quế T, Nam giáp đất ông Nguyễn T4, Lê Văn T3 (đất đang tranh chấp), Bắc giáp đất Trần Quế T thuộc quyền s d ng của bà Trần Quế T (kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T6 VÀ ĐO ĐẠC HTB).

- Buộc ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng hai con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1 giao trả l i diện tích đất 13.313,3m2 th a đất số 33, tờ bản đồ số 114 tọa l c t i khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có tứ cận như sau phía Đông giáp đường nh a (đường X), Tây giáp đất bà Trần Quế T, Nam giáp đất ông Nguyễn T4, Lê Văn T3 (đất đang tranh chấp), Bắc giáp đất Trần Quế T cho bà Trần Quế T (kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 19/9/2023 của Công ty TNHH T7) (b t l c 597).

- Buộc ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng 2 con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1 tháo dỡ di dời căn nhà t m, giếng khoan để trả l i đất cho bà Trần Quế T.

- Ghi nhận s t nguyện hỗ trợ của bà Trần Quế T cho số tiền 115.710.000 đồng cho ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C cùng 2 con Đặng Thị Mỹ C2, Đặng Thành L1.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bà Trần Quế T có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có th m quyền để được em t cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định pháp luật đất đai.

4.2.Về chi phí em t, th m định, đo đ c: ông L, bà C hoàn trả cho bà Trần Quế T số tiền là 32.396.000 đồng.

5.Về án phí dân s sơ th m: Bà Trần Quế T không phải chịu án phí dân s sơ th m. Trả l i cho bà T 5.000.000 đồng tiền t m ứng án phí dân s sơ th m theo biên lai số 0005212 ngày 06/12/2019 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố Phan Thiết. Ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C phải nộp 300.000 đồng án phí dân s sơ th m.

6. Về án phí dân s ph c th m: trả l i 300.000 đồng t m ứng án phí đã nộp cho ông Đặng Thành L, bà Trần Thị C, ông Đặng Thành C1, bà Dương Thị K, bà Đặng Thị Mỹ C2, ông Đặng Thành L1, theo các biên lai số 0001453 ngày 01/4/2024, số 0001278 ngày 05/02/2024, số 0001280 ngày 05/02/2024, số 0001279 ngày 05/02/2024, số 0001281 ngày 06/02/2024, số 0001282 ngày 06/02/2024 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố Phan Thiết.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân s đã s a đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân s đã s a đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân s đã s a đổi, bổ sung.

Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/02/2025).

Cỡ chữ