vanban.org

Bản án 31/2024/HSST — Hình sự

TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 40cm, cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim lọai dài 28cm, bản rộng nhất 07cm, hẹp nhất 03 cm và 01 (một) cái kềm dài 16,5cm, phần lưỡi màu đen bằng kim loại dài 05cm, phần cán bọc nhựa màu xanh dài 11,5cm (vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HSST
Ngày 14/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Sinh

2. Ông Trần Phi Long

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS, ngày 17/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 26/02/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: LÊ VĂN L - Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1975 Tên gọi khác: Cu Anh; giới tính: Nam. Nơi cư trú: khối phố 2, phường VĐ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: 6/12. Họ và tên cha: Lê Văn C ; họ và tên mẹ: Trần Thị H. Vợ: Phạm Thị Ph (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:

- Bản án số 25 ngày 29/11/1993 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn (nay là thị xã Điện Bàn) xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Quyết định số 73 ngày 15/12/1998 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Điện (nay là phường Vĩnh Điện) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường.

- Quyết định ngày 10/3/1999 bị Công an huyện Điện Bàn (nay là thị xã Điện Bàn) xử phạt 50.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

- Quyết định số 119, ngày 24/4/1999 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.

- Quyết định ngày 07/7/2006 bị Công an thị trấn Vĩnh Điện (nay là phường Vĩnh Điện) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ.

Bắt tạm giam ngày 27/11/2023 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Bị hại: Ông Lê Văn Hoàng Li - Sinh năm 1975 (có mặt) Địa chỉ: Số 144/2 NTT, phường Cp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, Lê Văn Hoàng Li quá giang xe đi từ thành phố Hội An đến nhà L tại khối phố 2, phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để tìm chị Lê Thị Kim H (em ruột L, giữa H và Li có quan hệ tình cảm) nhưng không gặp. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi Li đang đứng trước cổng nhà thì L trong tình trạng say rượu và cũng không thích Li qua L với em gái mình nên cầm 01 cây gỗ dài khoảng 50cm từ trong nhà chạy ra đánh từ trên xuống dưới trúng vào mũ bảo hiểm Li đang đội trên đầu, nhưng không gây thương tích, thì được người dân đi đường can ngăn. Thấy vậy, Li bỏ chạy lên hướng bờ kè Vĩnh Điện, thì L quay vào nhà lấy 01 kiềm bấm dây điện, màu xanh dương rồi đuổi theo Li. Khi đuổi kịp Li, L dùng kiềm bấm dây điện đánh phần lưỡi kiềm trúng vào vùng miệng, bấm kiềm vào vùng mặt, bụng, ngực, cổ của Li, thì Li tiếp tục chạy ra đường Trần Nhân Tông. Khi đến ngã ba giữa đường Huỳnh Ngọc Huệ và Trần Nhân Tông thì Li dừng L điện thoại cho Lê Thị Kim H đến chở Li về nhưng không được. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi dùng kiềm bấm gây thương tích cho Li xong, L quay về L nhà mình lấy 01 con dao (dài 40cm, cán bằng gỗ dài 12cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm) tiếp tục tìm để đánh Li. Khi đến khu vực ngã ba giữa đường Huỳnh Ngọc Huệ và Trần Nhân Tông thấy Li đang đứng bên lề đường, L đi đến đứng đối diện với Li cầm dao trên tay phải chém vào người Li từ trên xuống dưới thì Li tránh được nhưng đầu lưỡi dao xượt qua trúng vào vùng mang tai trái và vai trái của Li. Thấy vậy, L tiếp tục đưa dao lên chém liên tiếp 02 – 03 cái từ trên xuống dưới thì Li đưa 02 tay lên đỡ gây thương tích ở vùng cẳng tay trái, cẳng tay phải. Thấy Li máu chảy ra nhiều, L bỏ đi về nhà. Sau đó, Li được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam để cấp cứu và điều trị.

Căn cứ Bản giám định thương tích số 2075/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phân viện khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng thương tích của anh Lê Văn Hoàng Li xác định: Sẹo sát trên cung mày trái, kích thước 1x0,1cm, mép tương đối gọn: 03 %; Sẹo trước tai trái, kích thước 1,2x0,1cm, không gọn: 03%; Sẹo vùng ngực trước bên trái, kích thước 1,2x0,3cm, không gọn: 01%; Sẹo vùng bụng phải, kích thước 1x0,3cm, không gọn: 01 %; Sẹo vùng bụng trái, kích thước 1,1x (0,1-0,2)cm, không gọn: 01 %; Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải, kích thước 2,8x0,1cm, mép gọn: 01%; Sẹo mặt sau trong 1/3 giữa cẳng tay phải, kích thước 2,8x (0,1-0,3)cm, mép gọn: 01%; Sẹo mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay phải, kích thước 7,3x(0,1-0,2)cm, mép gọn: 02%; Sẹo vai trái, kích thước 6,5x(0,1-0,2)cm, mép gọn: 02%; Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước 5,5x0,1cm, mép gọn: 02%. Kết quả tổng tỉ lệ thương tích của Lê Văn Hoàng Li là 16% (áp dụng phương pháp cộng giật lùi). Tổn thương tại vùng cung mày trái do vật có diện tiếp xúc hẹp gây nên. Các tổn thương tại cẳng tay phải, vùng vai trái, mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên. Các tổn thương vùng trước tai trái, vùng ngực trước bên trái, vùng bụng do vật tày gây nên.

Bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS, ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị kết tội Lê Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo điển đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX như sau: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, VKSND thị xã Điện Bàn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 26/8/2023, tại khối phố 2, phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, do uống rượu say nên Lê Văn L có hành vi vô cớ dùng cây gỗ, dùng kiềm đánh, bấm vào người anh Lê Văn Hoàng Li; không dừng L sau khi anh Li bỏ chạy Lê Văn L quay về nhà lấy dao tiếp tục chém nhiều cái vào người anh Li gây thương tích tỷ lệ 16%.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, tang vật vụ án, phù hợp với cơ chế hình thành các thương tích trên cơ thể anh Li và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Đồng thời qua tranh luận bị cáo đồng ý với lời luận tội đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Do đó quyết định truy tố của VKSND thị xã Điện Bàn và luận tội đề nghị kết tội của Kiểm sát viên trong phần tranh luận đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật và được HĐXX chấp nhận.

Đánh giá, tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, đồng thời pháp luật nghiêm trị những ai có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, bị cáo đã nhận thức rõ điều đó nhưng do bản tính hung hãn, bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên đã dẫn bị cáo đi vào con đường phạm tội. Giữa anh Li và L không có mâu thuẫn nhau, nhưng bị cáo vô cớ dùng hung khí nguy hiểm đánh anh Li gây thương tích tỷ lệ 16%. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nhằm xâm hại đến sức khỏe của người khác, khách thể được pháp luật bảo vệ. Do đó có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn L đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng: “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS, ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính, đưa vào cơ sở giáo dục. Nhưng xét, sau khi vụ án phát hiện, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, vợ ly hôn, bị cáo là lao động chính phải nuôi con còn đi học. Do đó HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi quyết định hình phạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần phải xử phạt tù và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng xem thường pháp luật như bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tạm giữ 01 con dao dài 40cm, cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, bản rộng nhất 07cm, hẹp nhất 03cm; 01 cái kềm dài 16,5cm phần lưỡi màu đen bằng kim loại dài 05cm, phần cán bọc nhựa màu xanh dài 11,5cm, đây là công cụ phạm tội cần phải tịch thu, tiêu hủy.

Đối với một cây gỗ dài khoảng 50cm mà Lê Văn L dùng để đánh anh Li nhưng không gây thương tích. Sau khi đánh xong, L vứt đi đâu không rõ. Cơ quan CSĐT tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: anh Li đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại là 20.000.000đ và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 27/11/2023).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 40cm, cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim lọai dài 28cm, bản rộng nhất 07cm, hẹp nhất 03 cm và 01 (một) cái kềm dài 16,5cm, phần lưỡi màu đen bằng kim loại dài 05cm, phần cán bọc nhựa màu xanh dài 11,5cm (vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn đang tạm giữ tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/01/2024).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo và bị hại có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên TAND tỉnh Quảng Nam để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ