vanban.org

Bản án 31/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trà Quốc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023

Về xử lý vật chứng: 01 con dao thái lan, dài 20cm cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 10 cm là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Trà Quốc T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trà Quốc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 11/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Nhất Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chuyển

Ông Nguyễn Thế Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Trà Quốc T (Long Cán)- sinh ngày 03/4/1994; tại: N, Khánh Hòa; Nơi cư trú: thôn Lạc Ninh, xã Ninh Thọ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trà Quốc Th, sinh năm 1966 và bà: Bùi Thị Lệ Th1, sinh năm 1969; Chị ruột: Trà Thị Thùy L1, Trà Thị Thùy L2; vợ: Lê Ngọc Tr.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/10/2023 tại nhà tạm giữ công an thị xã thị xã N; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Trương Đình H, sinh năm 1995; có mặt

Địa chỉ: Xuân Phong, Ninh Thọ, N, Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Dương Minh T1, sinh năm 1999; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn 2, Ninh Sơn, Ninh Hoà, Khánh Hoà.

2/ Nguyễn Vũ Tr1, sinh năm 2000; có mặt

Nơi cư trú: Thôn Xuân Mỹ, xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà

3/ Trương Đình T2, sinh năm 1998; có mặt

Nơi cư trú: Thôn Xuân Phong, xã Ninh Thọ, Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

4/ Lê Tuấn V, sinh năm 1992; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn Xuân Phong, xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hoà, Khánh Hoà.

5/ Nguyễn Tấn Th2, sinh năm 2005; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn Ngọc Sơn, xã Ninh An, thị xã Ninh Hoà, Khánh Hoà

- Người làm chứng:

1/ Tô Xuân L3, sinh năm 1990; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn Ngọc Sơn, xã Ninh An, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

2/ Nguyễn Phước H, sinh năm 1981; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn Lạc Ninh, xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà

3/Bùi Thị Lệ Th3, sinh năm 1969; có mặt

Nơi cư trú: Thôn Lạc Ninh, xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 04/3/2023, Trà Quốc T gọi điện thoại cho Trương Đình Hiển để hỏi tìm Nguyễn V Tr1 nói chuyện về mâu thuẫn giữa T và Trường trước đó thì giữa T và H xảy ra kinh cãi. Lúc này, H đang ngồi nhậu tại quán rửa xe của em trai là Trương Đình T2 ở thôn Lạc Ninh, xã Ninh Thọ, thị xã N cùng với T2, Nguyễn Tấn Th2, Nguyễn V Tr1, Nguyễn Phước H và Tô Xuân L3. H hẹn sẽ chở Tr1 đến gặp T. Nghe vậy, T vào quán Long Cán của mình ở cùng thôn lấy 01 cái dao thái Lan dài 20 cm ra đứng trước quán đợi Hiển đến gặp. Khi nghe được cuộc nói chuyện giữa T và Hiển thì T2 điều khiển xe mô tô đi đến quán của T nói chuyện. Khi đang nói chuyện thì Trương Đình Hiển điều khiển xe môtô chở Tô Xuân L3, Nguyễn V Tr1 điều khiển xe đi một mình đến, H xuống xe chửi bới và lao vào dùng tay đánh vào mặt T, T rút dao Thái lan đã chuẩn bị sẵn đâm 01 cái vào vùng lưng trái của H gây thương tích.

Lúc này, Dương Minh T1 là nhân viên quán của T, thấy đông người nên cầm 02 cái chén chạy ra để giải vây cho T thì bị Trương Đình T2 và Nguyễn V Tr1 dùng tay chân, đánh vào người; Nguyễn Tấn Th2 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Phước H đi đến sau thấy vậy nên lao vào đánh cùng đánh T1 thì được mọi người can ngăn. Một lúc sau, Lê T V điều khiển xe mô tô đi uống cà phê thấy mọi người tập trung đông người nên dùng lại. Khi nghe mọi người nói T1 là người dùng dao đâm H thì V cùng T2, Tr1, Th2 rượt đuổi T1 vào khu vực bếp của quán Long Cáng, T2, Tr1, Th2 dùng tay, chân đánh vào người T1, V dùng thố (tô) đánh vào đầu T1 gây thương tích. Khi được can ngăn thì tất cả dừng lại. H và T1 được đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 419/23/KLTTCT-PYKH ngày 09/5/2023 kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Đình Hiển là 30%.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 417/23/KLTTCT-PYKH ngày 09/5/2023 kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Minh Toàn là 04%.

Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N đã truy tố bị cáo Trà Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (Viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Trà Quốc T từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Trà Quốc T đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 104.000.000đ (Một trăm lẻ bốn triệu đồng) và đã bồi thường trước cho bị hại được 30.000.000đ (Ba mươi triệu). Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 74.000.000đ (bảy mươi bốn triệu đồng). Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng:

- 01 con dao thái lan, dài 20cm cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 10 cm là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

- Một đầu thu camera (Sn: WCC4J1YL3C47; Model: WD10PURZ-85U8XYO) do bị caó Trà Quốc T giao nộp không phải là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. (Giao nhận ngày 11/01/2024)

- Một đĩa DVD-R, dung lượng 4,7 Gb màu vàng là dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HS-ST và án phí DS-ST theo qui định Bị cáo, bị hại không tranh luận với kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Th2, Dương Minh T1, Lê Tuấn V và những người làm chứng Nguyễn Phước H, Tô Xuân L3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292,293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công An thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trà Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó, cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N đã truy tố bị cáo Trà Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, nhưng chỉ vì giải quyết mâu thuẫn mà bị cáo lại chuẩn bị dao là hung khí nguy hiểm tấn công bị hại khi bị hại có hành vi đánh bị cáo.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị hại cũng có lỗi vì lúc Trương Đình T2 đang nói chuyện với Trà Quốc T thì Trương Đình H chửi bới và lao vào dùng tay đánh vào mặt Trà Quốc T trước nên bị cáo Trà Quốc T dùng dao Thái Lan đâm vào vùng lưng trái của H tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Đình Hiển là 30%.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần dân lao động; tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Trà Quốc T đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 104.000.000đ (Một trăm lẻ bốn triệu đồng) và đã bồi thường trước cho bị hại được 30.000.000đ (Ba mươi triệu). Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 74.000.000đ (bảy mươi bốn triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng:

- 01 con dao thái lan, dài 20cm cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 10 cm là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Một đầu thu camera (Sn: WCC4J1YL3C47; Model: WD10PURZ-85U8XYO) do bị cáo Trà Quốc T giao nộp không phải là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- Một đĩa DVD-R dung lượng 4,7 Gb màu vàng là dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Trong vụ án này, hành vi của Trương Đình T2, Nguyễn Vũ Tr1, Nguyễn Tấn Th3 và Lê Tuấn V đã có hành vi dùng tay, chân và tô đánh Dương Minh T1 gây thương tích 04%. Hành vi của Trương Đình T2, Nguyễn Vũ Tr1, Nguyễn Tấn Th3 và Lê Tuấn V có dấu hiệu tội “Cố ý gây thương tích” qui định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Dương Minh T1 không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Công an thị xã N đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Đình T2, Nguyễn Vũ Tr1, Nguyễn Tấn Th3 và Lê Tuấn V.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Trà Quốc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (Viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Trà Quốc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023

2. Về xử lý vật chứng:

- 01 con dao thái lan, dài 20cm cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 10 cm là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Một đầu thu camera (Sn: WCC4J1YL3C47; Model: WD10PURZ-85U8XYO) do bị cáo Trà Quốc T giao nộp không phải là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- Một đĩa DVD-R dung lượng 4,7 Gb màu vàng là dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trà Quốc T phải bồi thường cho bị hại Trương Đình Hiển số tiền 74.000.000đ (bảy mươi bốn triệu đồng).

Quy định: Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về án phí: Bị cáo Trà Quốc T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, niêm yết bản án.

Cỡ chữ