- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc N; Nguyễn Thị Thảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 06-3 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Xuân Nghĩa
2. Bà Trần Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Trường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:20/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2024/HSST-QĐ ngày 06/02/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Ngọc N, sinh năm 1978 tại Đồng Nai.
Tên gọi khác: Trần Ngọc Hạnh
Nơi cư trú: Tổ 1, Khu phố Hiệp Nhất, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Trần Ngọc Thanh, sinh năm 1958 và con bà Bùi Kiều Xuân, sinh năm 1958. Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con lớn nhất; Chồng: Phùng Hoàng Sơn, sinh năm 1976. Con: 05 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2015
Tiền sự: Không
Tiền án: 01 tiền án.
- Ngày 19/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2022.
Nhân thân:
Tại Bản án số 17/2007/HSST ngày 08/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Đa Teh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 302/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa xử phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” (vụ án xảy ra ngày 11/7/2018).
Tại Bản án số 58/2020/HSST ngày 06/8/2020 Tòa án nhân dân Thị xã La Ghi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời tổng hợp hình phạt 10 tháng tù về tội Đánh bạc tại Bản án số 302/2020/HSST ngày 19/6/2020 của TAND thành phố Biên Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 02 Bản án là 28 tháng tù.
Bị bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 và đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán cho đến nay.
2. Nguyễn Thị Thảo S, sinh năm 1981 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tên gọi khác: My
Nơi cư trú: Tổ 4, Khu phố Hiệp Nhất, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 1/12. Con ông Nguyễn Văn Sang (đã chết) và con bà Đặng Thị Mót, sinh năm 1957. Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất của ông Sang và bà Mót. Chồng: Dương Công Lợi, sinh năm 1990. Con: 03 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 20/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt 03 tháng 22 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”
- Ngày 18/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị can đã chấp hành án xong ngày 13/11/2016.
Bị cáo được khởi tố tại ngoại áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
Bị hại: Bà Lỷ Nàm Múi, sinh năm 1968
Địa chỉ: Ấp 2, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
(Có mặt các bị cáo, vắng mặt bị hại)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc N là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và là bạn bè quen biết với Nguyễn Thị Thảo S;
Khoảng 08 giờ 30 ngày 21/6/2023, N cùng S ngồi uống nước tại quán cà phê (không có bảng hiệu) tại khu vực đối diện tiệm vàng hiệu “Lập Đức”, thuộc khu phố Hiệp Đồng, thị trấn Định Quán, thì quan sát thấy bà Lỷ Nàm Mùi, sinh năm 1968, trú tại ấp 2, xã Thanh Sơn, điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60H6 – 158.49, đi vào trong tiệm vàng “Lập Đức” giao dịch rồi đi ra. N và S phát hiện trên tay bà Mùi cầm 01 túi da bỏ vào cốp xe nên cả hai đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên để có tiền tiêu xài. N, S cùng bàn bạc và thống nhất kế hoạch tiếp cận và dàn cảnh mua đồ để đánh lạc hướng làm bà Mùi mất cảnh giác nhằm trộm cắp 01 túi da trong cốp xe. Khi thấy bà Mùi điều khiển xe mô tô di chuyển vào khu vực chợ thì N nhanh chóng điều khiển xe mô tô hiệu Vision, biển số 60H6-222.99, chở theo S đi theo xe mô tô trên. Đến khu vực phía trước Kiot bán trái cây trong chợ Định Quán thuộc khu phố Hiệp Đồng, quan sát thấy bà Mùi xuống xe mua trái cây tại đây thì S dắt xe mô tô biển số 60H6-222.99 đến dựng sát xe của bà Mùi và dàn cảnh đứng mua hàng nhằm tiếp cận xe mô tô biển số 60H6 – 158.49, còn N cầm túi đồ che khuất tầm nhìn của bà Mùi và canh chừng. Lúc này, S dùng tay phải đưa vào trong cốp xe mô tô biển số 60H6 – 158.49, lấy 01 túi da ở bên trong rồi kẹp vào người, sau đó S điều khiển xe mô tô biển số 60B4-222.99, tẩu thoát khỏi hiện trường di chuyển về nhà của N thuộc khu phố Hiệp Nhất, thị trấn Định Quán. Khoảng 05 phút sau, thì N đi quay về nhà, tại đây N và S mở bên trong túi da có các tài sản gồm: Tiền mặt 22.000.000 đồng (40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và tiền mệnh giá 200.000 đồng, 100.000 đồng không rõ số tờ); 01 giấy phép lái xe tên Lỷ Nàm Mùi; 01 căn cước công dân tên Lỷ Nàm Mùi; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 căn cước công dân tên Lỷ Quỳnh Như. Sau đó, N và S thống nhất chia mỗi người được 11.000.000 đồng, số tài sản còn lại N cất giữ trong nhà.
Đến ngày ngày 22/6/2023, biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện, nên Trần Ngọc N, Nguyễn Thị Thảo S đến Cơ quan Công an đầu thú khai nhận hành vi của bản thân và giao nộp tang vật
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Định Quán, Trần Ngọc N, Nguyễn Thị Thảo S đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Tài sản thiệt hại:
- Tiền mặt 22.000.000 đồng;
- 01 túi da màu nâu, kích thước 10x20cm;
- 01 Giấy phép lái xe tên Lỷ Nàm Mùi;
- 01 Căn cước công dân tên Lỷ Nàm Mùi;
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 148.59;
- 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 60H6 – 148.59;
- 01 Căn cước công dân tên Lỷ Quỳnh Như.
Tại bản kết luận định giá số 35/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Định Quán và số tiền mặt bị mất trộm trong vụ án xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 22.460.000 đồng
Cáo trạng số: 167/CT-VKSĐQ ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Ngọc N và Nguyễn Thị Thảo S về tội “ Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Ngọc N; Nguyễn Thị Thảo S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc N từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02(hai) năm tù
Khoản 1 Điều 173 điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thảo S từ 01(một) năm đến 01( một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Vật chứng vụ án:
- Số tiền 20.000.000 đồng (Trong đó gồm số tiền 10.500.000 đồng Trần Ngọc N tự nguyện giao nộp và số tiền 9.500.000 đồng do Nguyễn Thị Thảo S giao nộp), là tài sản của bà Lỷ Nàm Mùi nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Mùi
- 01 túi da màu nâu, kích thước 10x20cm; 01 Giấy phép lái xe tên Lỷ Nàm Mùi; 01 Căn cước công dân tên Lỷ Nàm Mùi; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 60H6 – 148.59, là tài sản của bà Lỷ Nàm Mùi nên Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho bà Mùi
- 01 Căn cước công dân tên Lỷ Quỳnh Như, là tài sản của chị Lỷ Quỳnh Như nên Cơ quan điều tra ra đã trao trả cho chủ sở hữu
- Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDA VISION, biển số 60H6 – 222.99, màu xanh đen, là tài sản hợp pháp của N. Vào ngày 11/01/2023, N đã sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Lỷ Nàm Mùi đã nhận lại được các tài sản gồm 01 túi da, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 Giấy bảo hiểm xe mô tô, 02 Căn cước công dân và số tiền 20.000.000 đồng. Bà tiếp tục yêu cầu Trần Ngọc N và Nguyễn Thị Thảo S phải trả cho bà số tiền 2.000.000 đồng .
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Ngọc N; Nguyễn Thị Thảo S không tranh luận bào chữa cho hành vi phạm tội. Đồng ý trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho bà Lỷ Nàm Múi.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng:
+ Nguyễn Thị Thảo S: Bị cáo biết việc mình làm là sai, các con của bị cáo còn nhỏ xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức hình phạt thấp nhất.
+ Trần Ngọc N: Bị cáo biết việc mình làm là sai xin giảm nhẹ mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Vào ngày 21/6/2023, tại khu vực chợ Định Quán thuộc khu phố Hiệp Đồng, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Trần Ngọc N và Nguyễn Thị Thảo S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi da của bà Lỷ Nàm Mùi, bên trong gồm các tài sản như: số tiền 22.000.000 đồng; 01 giấy phép lái xe tên Lỷ Nàm Mùi; 01 căn cước công dân tên Lỷ Nàm Mùi; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 căn cước công dân tên Lỷ Quỳnh Như. Hành vi do bị can Trần Ngọc N và Nguyễn Thị Thảo S thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Bản cáo trạng số 167/CT-VKSĐQ ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự và trình bày luận tội của kiểm sát viên đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.
Về tính chất mức độ tội phạm: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo có thái độ chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn. Nguyễn Thị Thảo S là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, Trần Ngọc N đồng phạm với vai trò là người giúp sức.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Ngọc N có 01 tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Thị Thảo S không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, năn năn hối cải, tài sản đã thu hồi và trả cho chủ sở hữu là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu.
Về các biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lỷ Nàm Mùi đã nhận lại được các tài sản gồm 01 túi da, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 Giấy bảo hiểm xe mô tô, 02 Căn cước công dân và số tiền 20.000.000 đồng. Bà yêu cầu Trần Ngọc N và Nguyễn Thị Thảo S phải trả cho tiếp bà số tiền 2.000.000 đồng .
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 20.000.000 đồng (Trong đó gồm số tiền 10.500.000 đồng Trần Ngọc N tự nguyện giao nộp và số tiền 9.500.000 đồng do Nguyễn Thị Thảo S giao nộp), là tài sản của bà Lỷ Nàm Mùi nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Mùi
- 01 túi da màu nâu, kích thước 10x20cm; 01 Giấy phép lái xe tên Lỷ Nàm Mùi; 01 Căn cước công dân tên Lỷ Nàm Mùi; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 148.59; 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 60H6 – 148.59, là tài sản của bà Lỷ Nàm Mùi nên Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho bà Mùi
- 01 Căn cước công dân tên Lỷ Quỳnh Như, là tài sản của chị Lỷ Quỳnh Như nên Cơ quan điều tra ra đã trao trả cho chủ sở hữu
- Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDA VISION, biển số 60H6 – 222.99, màu xanh đen, là tài sản hợp pháp của N. Vào ngày 11/01/2023, N đã sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm i, khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thảo S.
- Khoản 1 Điều 173; điểm i, khoản 1 Điều 51, Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc N.
- Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc N; Nguyễn Thị Thảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thảo S 01(một) năm 02(hai) tháng tù
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc N 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/6/2023.
2.Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Trần Ngọc N; Nguyễn Thị Thảo S phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Lỷ Nàm Mùi số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), trong đó bị cáo S phải bồi thường số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) bị cáo N phải bồi thường số tiền 500.000 đ (Năm trăm ngàn đồng)
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu HONDA VISION, biển số 60H6 – 222.99 màu xanh đen.
4.Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc N, bị cáo Nguyễn Thị Thảo S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai - VKSND huyện Định Quán; - Công an huyện Định Quán; - Chi cục THADS huyện Định Quán; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thị Thịnh |