vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Lê Thị Tường V đối với anh Nguyễn Hoàng Hoài P. Xử cho chị Lê Thị Tường V được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Hoài P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vi - Phương"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 29-3-2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch.

Ông Đinh Xuân Dậu.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 951/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tường V, sinh năm 2002.

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Hoài P, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị V, anh P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 12/10/2023 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Lê Thị Tường V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hoàng Hoài P xây dựng gia đình với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 29 tháng 9 năm 2020. Việc kết hôn do hai bên đều tự nguyện. Nay chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với anh P. Nguyên nhân chị V yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Khoảng 12/2022 chị phát hiện anh P có tình cảm với người phụ nữ khác nên chị và anh P đã sống ly thân từ năm 08/2023 đến nay. Hiện chị V xác định không còn tình cảm với anh P, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh P.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022. Hiện nay cháu K đang sống với chị V, ly hôn chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V khai không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Chị V đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng Hoài P trình bày:

Anh và chị Lê Thị Tường V kết hôn với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai do cả hai đều tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến 4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế và chăm sóc con nên vợ chồng thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ 8/2023 chị V bỏ về nhà mẹ đẻ ở tỉnh Trà Vinh sống, vợ chồng chính thức ly thân nhau không bàn bạc, đoàn tụ. Nay anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng do anh P thương con và do anh theo đạo thiên chúa nên anh không ký vào bất kỳ giấy tờ gì để ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022. Hiện nay cháu K đang sống với chị V, ly hôn chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con thì anh P đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Anh P đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V; Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022 cho chị V trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, anh P không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Tường V và anh Nguyễn Hoàng Hoài P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn chị V và bị đơn anh P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tường V và anh Nguyễn Hoàng Hoài P xây dựng gia đình với nhau 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 29 tháng 9 năm 2020 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị V khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh P với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 8/2023 đến nay không bàn bạc đoàn tụ được. Đồng thời anh P cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân tuy nhiên do anh P bên đạo công giáo nên không đồng ý ký giấy tờ ly hôn. Do đó, xác định chị V và anh P đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V, xử cho chị V được ly hôn anh P là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị V và anh P có 01 con chung tên là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022. Hiện nay cháu K đang ở với chị V, ly hôn chị V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K. Xét thời gian qua chị V nuôi con tốt, anh P không có ý kiến phản ánh hay yêu cầu gì đối với việc nuôi con chung của chị V tại địa phương. Đồng thời anh P cũng đồng ý giao cháu K cho chị V nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Lê Thị Tường V đối với anh Nguyễn Hoàng Hoài P.

Xử cho chị Lê Thị Tường V được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Hoài P.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 13/01/2022 cho chị Lê Thị Tường V trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời anh Nguyễn Hoàng Hoài P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Hoàng Hoài P được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 110 và Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Chị Lê Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007548 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Lê Thị Tường V đã nộp đủ án phí.

3. Chị V và anh T được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân D – Đ

Bùi Thị Bích Hồng

Cỡ chữ