vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

VKSND huyện Tân Thạnh;

Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; Cơ quan đã đăng ký kết hôn; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N M "Tranh chấp ly hôn" Nguyễn V C"
  • Tòa quyết gì? VKSND huyện Tân Thạnh;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2024
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kham Ly Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim The – Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1996 Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Long An. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Viết C, sinh năm 1987 Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã X, thị xã S, Thành phố Hà Nội. Tạm trú: ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Các đương sự vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M trình bày: Bà M và ông C chung sống với nhau từ cuối năm 2021, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, Thành phố Hà Nội vào ngày 12-9-2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông C hay chơi cờ bạc, còn liên quan đến tín dụng đen nên mâu thuẫn trầm trọng, đến ngày 21-05-2023 ông C bị bắt vì tội cho vay lãi nặng và bị giam cho đến hiện tại. Nay bà M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Về hôn nhân: Bà M yêu cầu được ly hôn với ông C. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Viết C: Ông C đồng ý ly hôn với bà M vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc M. Bà Nguyễn Thị Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Viết C. Đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Viết C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, Thành phố Hà Nội vào ngày 12-9-2022 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Viết C là hợp pháp. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Viết Chiến địa c cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về việc xét xử vắng mặt tất cả các đương sự: Xét thấy bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Viết C vắng mặt và có đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự. [3] Về hôn nhân: Đến thời điểm mở phiên tòa, bà M không có ý kiến thay đổi, rút lại yêu cầu ly hôn đối với ông C. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 20-5-2024, ông C đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà M, đồng ý ly hôn với bà M. Như vậy căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở kết luận mâu thuẫn giữa bà M và ông C đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về con chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Viết C không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc M đối với ông Nguyễn Viết C. Cho bà Nguyễn Thị Ngọc M được ly hôn ông Nguyễn Viết C. 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc M có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003617 ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. 3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Viết C có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

Cỡ chữ