vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc nuôi con: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi con Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01- 10- 2022.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quỳnh Đình"
  • Tòa quyết gì? Về việc nuôi con: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi con Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01- 10- 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15- 4- 2024
V/v: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Trường;

Ông Đoàn Trung Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 228/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990; địa chỉ đăng ký thường trú: Xóm B, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".

- Bị đơn: Anh Lưu Công Đ, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm B, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lưu Công Đ tự nguyện tìm hiểu, kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15- 01-2015. Sau đó, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 3-2023 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Lưu Công Đ, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh Lưu Công Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01- 10- 2022; hiện đang sống cùng chị. Nay ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.

Ý kiến của anh Lưu Công Đ: Anh Lưu Công Đ nhất trí với chị Nguyễn Thị Q về quan hệ hôn nhân và việc nuôi con chung như chị Q trình bày. Anh nhất trí ly hôn và nhất trí để chị Q nuôi con chung theo yêu cầu của chị Q nhưng anh yêu cầu được quyền thăm nom con chung. Anh xin vắng mặt không đến Tòa án giải quyết vụ án.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, huyện G: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như các đương sự trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Q đối với anh Lưu Công Đ; căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi con chung Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01-10- 2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q và bị đơn anh Lưu Công Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Lưu Công Đ kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị Q và anh Đ không có hạnh phúc, đã sống ly thân. Nay chị Q xin ly hôn, anh Đ nhất trí. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q về việc xin ly hôn anh Lưu Công Đ.

Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Nguyễn Thị Q và anh Lưu Công Đ có 01 con chung là Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01- 10- 2022. Căn cứ vào điều kiện và nguyện vọng của các đương sự, đủ cơ sở giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung; chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Lưu Công Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q là nguyên đơn nên phải nộp án phí.

Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Lưu Công Đ.

2. Về việc nuôi con: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi con Lưu Công Phúc A, sinh ngày 01- 10- 2022. Anh Lưu Công Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004421 ngày 21- 11- 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Nguyễn Thị Q đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ