vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Thanh Nh và ông Nguyễn Đình H.

Về nuôi con chung: Bà Nh và ông H có 01 người con chung Nguyễn Đình Khoa, sinh ngày 21-12-2016. Giao con chung Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016 cho ông Nguyễn Đình H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Đình H không yêu cầu bà Phan Thị Thanh Nh cấp dưỡng nuôi con chung.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị Thanh Nh và ông Nguyễn Đình H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Thanh Nh và ông Nguyễn Đình H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2024
“V/v Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Phi.

2. Ông Bùi Huy Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thanh Nh, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà Nh, ông H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị Thanh Nh trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 07 năm, bà Nh và ông Nguyễn Đình H mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 6 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Từ đó, vợ chồng bà cũng đã ly thân cho đến nay. Trong thời gian này, vợ chồng bà cũng không tìm cách hàn gắn tình cảm vì xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay, bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà Nh xin được ly hôn với ông H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng bà có 01 người con chung Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016. Trước đây, bà Nh có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung nhưng nay bà đồng ý để cháu Khoa cho ông H được quyền nuôi dưỡng, bà Nh không cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Đình H, trình bày: Ông H với bà Phan Thị Thanh Nh sống chung với nhau có đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 6 năm 2016 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nên dần dần tình cảm không còn. Từ năm 2019, vợ chồng ông đã ly thân cho đến nay. Trong thời gian này, vợ chồng cũng không hàn gắn tình cảm vì xét thấy tình cảm không còn. Nay, bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không ký biên bản thuận tình ly hôn.

Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông có 01 người con chung Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016, hiện cháu Kh đang sống cùng ông nên ông H có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Nh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016 cho ông H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của ông H không yêu cầu bà Nh phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Nh và ông H không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bà Nh phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Bà Nh và ông H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay bà Nh yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông H là xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nh, ông H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nh và ông H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 6 năm 2016 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng bà Nh, ông H cũng đã ly thân từ đó cho đến nay.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, bà Nh giữ nguyên yêu cầu ly hôn; ông H không đồng ý thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật và có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà Nh. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Nh và ông H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Nh được ly hôn với ông H.

. Về nuôi con chung: Hiện con chung của bà Nh, ông H là Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016 đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống với ông H, bà Nh cũng đồng ý giao con chung cho ông H được quyền nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Kh và ông H. Xét thấy, nội dung này không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của ông H không yêu cầu bà Nh cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Nh, ông H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bà Nh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Thanh Nh và ông Nguyễn Đình H.

2. Về nuôi con chung: Bà Nh và ông H có 01 người con chung Nguyễn Đình Khoa, sinh ngày 21-12-2016.

Giao con chung Nguyễn Đình Kh, sinh ngày 21-12-2016 cho ông Nguyễn Đình H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Đình H không yêu cầu bà Phan Thị Thanh Nh cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Phan Thị Thanh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phan Thị Thanh Nh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008752 ngày 03 tháng 8 năm 2023; bà Phan Thị Thanh Nh đã nộp xong án phí DSST.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ