- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng B kiện vay tài sán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 25/7/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Khảnh và ông Nguyễn Bá Tòng
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thái– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/TLST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QĐST-DS ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Địa chỉ: LPB Tower, số 210 đường T, phường Tr, quận H, thành phố H. Đại diện pháp luật: ông Hồ Nam T; đại diện theo ủy quyền: ông Trần Tấn V– Giám đốc chi nhánh Phú Yên. Địa chỉ: 197-199 Hùng Vương, phường 5, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (theo quyết định số 97214/2023/QĐ-TGĐ ngày 11/7/2023). Ông Vinh ủy quyền lại cho ông Tạ Phạm Kim S, (Giấy ủy quyền số 19/2023/GUQ-LBP.PY ngày 22/8/2023). Có mặt.
Bị đơn: Bùi Thị L sinh năm 1983; Lưu Trọng C, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu phố P phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 28/8/2020, bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C có vay tại Ngân hàng TMCP B theo hợp đồng tín dụng số HDTD 60020201334 với số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Mục đích vay: tiêu dùng; phương thức cho vay: Từng lần; thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 29/8/2020 đến ngày 28/8/2024; lãi suất cho vay là 8,5%/năm áp dụng cố định suốt thời gian vay; kỳ hạn trả nợ gốc là vào ngày 20 hàng tháng. Số tiền phải trả từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 47 là: 2.080.000 đồng; số tiền tháng thứ 48 phải trả là: 2.240.000 đồng.
Kể từ ngày 21/7/2023, bên vay vốn đã không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, không trả nợ gốc và nợ lãi vay đúng hạn. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo về việc thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay trên, nhưng khách hàng vẫn không thực hiện nghĩa vụ, tính đến ngày 30/7/2023 khoản vay của khách hàng đã chuyển nhóm nợ 2. (Nợ thực tế là nhóm 4).
Ngoài ra, bà Bùi Thị L và ông Lưu Trọng C có sử dụng 01 thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B, lãi suất thẻ là 28%/năm, số thẻ: 356587******9009, hạn mức 10.000.000 đồng. Hiện tại nợ thẻ đã chuyển sang nợ quá hạn do chậm thanh toán 01 kỳ. Tính đến ngày 02/2/2024, bị đơn còn nợ số tiền 10.980.263 đồng. Ngân hàng có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay thẻ tín dụng,
Nay Ngân hàng khởi kiện, buộc bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết, tổng nợ lãi và gốc tính đến ngày 25/7/2024, còn nợ ngân hàng số tiền 40.642.530 đồng (trong đó: dư nợ gốc quá hạn: 29.229.865 đồng; nợ lãi trong hạn: 9.185.355 đồng; lãi quá hạn là: 1.768.446 đồng; phạt chậm ttar lãi: 458.864 đồng), và tiếp tục tính lãi, lãi phạt theo nội dụng hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi tất toán khoản vay.
* Quá trình giải quyết, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, đồng thời không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng số HDTD 60020201334; rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thẻ tín dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn liên đới trả cho Ngân hàng số tiền phát sinh từ hợp đồng vay là 40.642.530 đồng,tính đến ngày 25/7/2024. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với thẻ tín dụng cấp cho bà Bùi Thị Luyến, số thẻ: 356587******9009, hạn mức 10.000.000 đồng; bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt và bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại Khu phố P, phường H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Bị đơn Bùi Thị L, Lưu Trọng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Xét hợp đồng vay tài sản: Ngày 28/8/2020, bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C có ký vay tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số HDTD 60020201334 với số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Mục đích vay: tiêu dùng; phương thức cho vay: Từng lần; thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 29/8/2020 đến ngày 28/8/2024; lãi suất cho vay là 8,5%/năm áp dụng cố định suốt thời gian vay; kỳ hạn trả nợ gốc là vào ngày 20 hàng tháng. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, bị đơn có ký tên vay và đã ký nhận đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng minh thực tế có sự giao kết hợp đồng giữa Ngân hàng và bị đơn. Việc giao kết này dựa trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không bị lừa dối, ép buộc; các bên đều có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Hợp đồng có hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 119 và Điều 401, 405 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 94, 95, 118 Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên có hiệu lực với các bên tham gia.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã không thực hiện theo đúng cam kết, khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần ra thông báo nhắc nhở và thông báo thu hồi nợ nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 21/7/2023, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay nên trên. Như vậy, bị đơn đã vi phạm hợp đồng ký kết giữa hai bên về thời gian thanh toán nợ gốc và lãi.
Về số tiền gốc: Căn cứ hợp đồng tín dụng kiêm khuế ước nhận nợ số HDTD 60020201334, bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 70.770.135 đồng cho 35 kỳ vay, tính đến ngày xét xử bị đơn còn nợ số tiền 29.229.865 đồng.
Về số tiền lãi: Theo nội dung thỏa thuận hợp đồng tín dụng kiêm khuế ước nhận nợ số HDTD 60020201334, lãi suất bị đơn phải chịu bao gồm lãi suất trong hạn: 8,5% năm áp dụng cố định trong suốt thời gian vay. Nếu bên vay chậm trả gốc và/hoặc lãi thì phải chịu lãi suất quá hạn là 150% lãi trong hạn tính từ thời điểm chuyển nợ quá hạn; phạt chậm trả lãi là 10%/năm, phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay của các tổ chức tín dụng tại Điều 3, Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng, phù hợp với các quy định tại Điều 357, Điều 648 Bộ luật Dân sự. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bị đơn phải thanh toán lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là: 11.412.665 đồng. Trong đó, nợ lãi trong hạn: 9.185.355 đồng; lãi quá hạn là: 1.768.446 đồng; lãi phạt lãi: 458.864 đồng.
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ và các giấy triệu tập tham gia các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, các phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 40.642.530 đồng (trong đó: dư nợ gốc quá hạn: 29.229.865 đồng; nợ lãi trong hạn: 9.185.355 đồng; lãi quá hạn là: 1.768.446 đồng; phạt chậm trả lãi: 458.864 đồng. Bị đơn còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 25/7/2024 cho đến khi trả xong nợ.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo khoản vay cấp thẻ tín dụng cho bà Bùi Thị L, 01 thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B, số thẻ: 356587******9009, hạn mức 10.000.000 đồng, việc rút đơn là ý chị tự nguyện, nên theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố Tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm liên đới trả nợ: Bà Bùi Thị L và ông Lưu Trọng C là vợ chồng, hiện đang chung sống phải cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 288 Bộ luật dân sự
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.032.126 đồng (hai triệu, không trăm ba mươi hai nghìn, một trăm hai mươi sáu đồng), hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.013.000 đồng (một triệu, không trăm mười ba nghìn đồng) được nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007128 ngày 13/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228; 238 và Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 116, 117, 119, 288, 401, 405 429, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 94, 95, 118 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt. Buộc bị đơn bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C liên đới trả cho Ngân hàng số tiền phát sinh từ hợp đồng vay là 40.642.530 đồng (bốn mươi triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm ba mươi đồng). Trong đó: dư nợ gốc quá hạn: 29.229.865 đồng; nợ lãi trong hạn: 9.185.355 đồng; lãi quá hạn là: 1.768.446 đồng; phạt chậm trả lãi: 458.864 đồng,tính đến ngày 25/7/2024.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với việc yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo khoản vay cấp thẻ tín dụng cho bà Bùi Thị L, 01 thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B, số thẻ: 356587******9009, hạn mức 10.000.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: bà Bùi Thị L, ông Lưu Trọng C liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.032.126 đồng (hai triệu, không trăm ba mươi hai nghìn, một trăm hai mươi sáu đồng), hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.013.000 đồng (một triệu, không trăm mười ba nghìn đồng) được nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007128 ngày 13/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.
4. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án/bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND, VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND thị xã Đông Hòa; - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa; - Đương sự trong vụ án; - Lưu AV, HS Các Hội thẩm nhân dân Lê Thanh Khảnh Nguyễn Bá Tòng đúng cam kết, khi đến hạn trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà Bưởi vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 22/7/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn. Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ và các giấy triệu tập tham gia các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng bà Bưởi vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày đối với yêu cầu của Ngân hàng. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Bưởi đã vi phạm quy định của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, vi phạm Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Tính đến ngày xét xử (09/12/2022), bà Bưởi còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là: 11.905.808 đồng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc bà Phan Thị Bưởi phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc còn nợ là: 11.905.808 đồng. và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà Bưởi sang nợ quá hạn với lãi suất là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm các bên thỏa thuận. Mặc dù lãi suất trong hạn thời điểm Ngân hàng cho vay 31,2%/năm là cao hơn lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Do đó, việc bà Bưởi chậm trả lãi là vi phạm thỏa thuận tự nguyện giữa các bên. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về nợ lãi của nguyên đơn. Tính đến ngày .... nợ lãi là: ..... thì tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất Ngân hàng cho vay. điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng cung cấp, có cở sở khẳng định giữa Ngân hàng và bà Phan Thị Bưởi có ký hợp đồng vay với Ngân hàng để mở tài khoản và sử dụng tiền có trong tài khoản do Ngân hàng cho vay chuyển vào là thữ tế có xảy ra. Sau khi được cấp hạn mức tín dụng, bà Bưởi đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 12.000.000 đồng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Mỹ Dung Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Mỹ Dung - Đối với nợ gốc: Quá trình sử dụng thẻ, bà Bưởi đã không thực hiện theo - Đối với nợ lãi: Ngày 22/7/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Bưởi chậm thanh toán tiền Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và |