- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thanh Hiền - Thanh Tùng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK – TPCT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HSST Ngày: 27/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Trúc.
- Các Hội thẩm Nhân dân: 1/ Bà Đỗ Thị Lệ Hằng. 2/ Bà Nguyễn Minh Phương. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận NK, thành phố CT. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận NK tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hưng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở TAND quận NK, thành phố CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: MAI D T H;
- Giới tính: Nữ;
- Tên gọi khác:
- Sinh ngày 04 tháng 7 năm 1994; - Nơi sinh: CT;
- Nơi cư trú: Số 35/25, KV2, phường CVL, quận O, thành phố CT.
- Quốc tịch: Việt Nam;
- Dân tộc: Khơ - me; - Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 02/12;
- Nghề nghiệp: Không
- Họ tên cha: Mai V, sinh năm 1962;
- Họ tên mẹ: Danh Thị T, sinh năm 1961;
- Anh ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1985 và nhỏ nhất sinh năm 1990;
- Bị cáo sống chung như vợ chồng với Trần T T;
- Tiền án: Chưa;
- Tiền sự: 01 lần, bị Tòa án nhân dân quận O, thành phố CT quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng theo Quyết định số 21/Q Đ-TA ngày 16/5/2019; bị cáo chấp hành xong ngày 19/01/2022;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/10/2022 đến ngày 26/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận NK.
2. Họ và tên: TRẦN T T;
- Giới tính: Nam;
- Tên gọi khác:
- Sinh ngày 04 tháng 10 năm 1986; - Nơi sinh: CT;
- Nơi cư trú: Khu vực T, phường TL, quận O, thành phố CT.
- Quốc tịch: Việt Nam;
- Dân tộc: Kinh;
- Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 06/12;
- Nghề nghiệp: Không
- Họ tên cha: Trần Văn B, sinh năm 1952;
- Họ tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1954;
- Chị, em ruột: có 06 người, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1988;
- Bị can sống chung như vợi chồng với Mai D T H;
- Tiền sự: chưa;
- Tiền án: 01 lần, ngày 28/5/2019 bị Tòa án nhân dân quận O, thành phố CT xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/02/2020, bị can chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/10/2022 đến ngày 26/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận NK.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo bị Viện kiểm sát Nhân dân quận NK truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sau khi xác minh tin báo từ người dân vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/10/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố CT kết hợp với Công an phường CK, quận NK đã tiến hành tuần tra, tại khu vực bến đò ngang đường Trần Phú thuộc khu vực 2, phường CK thì phát hiện Trần T T điều khiển xe mô tô biển số 65T2 - 0232 chở Mai D T H nên tiến hành yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính, lúc này T và H khai có mang theo ma túy nên lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp, thu giữ những vật chứng sau:
- 01 gói nilon không màu, nẹp miệng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (thu giữ trong túi áo khoác phía trước bên trái mà Mai D T H đang mặc);
- 01 xe mô tô mang biển số 65T2 - 0232, số máy 5C64-851088, số khung RLC55C640, CY851085;
- 01 áo khoác màu đen.
Tại Kết luận giám định số 345/KL-KTHS ngày 24/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố CT, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3776 gam.
Quá trình điều tra, Trần T T và Mai D T H khai nhận: hai bị cáo sống chung như vợ chồng và đều nghiện ma túy, loại Heroin. Vào khoảng 15 giờ ngày 17/10/2022, do cả hai có nhu cầu sử dụng ma túy nên cầm điện thoại di động của H để lấy tiền và mượn xe mô tô biển số 65T2 - 0232 của người tên “Huy” (chưa rõ lai lịch). T chở H đi từ nhà ở quận O qua thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; T dừng xe chờ bên ngoài, H đi vào trong hẻm gặp đối tượng nam (chưa rõ nhân thân) mua gói Heroin giá 270.000 đồng . H cất ma túy vào túi áo khoác rồi ra xe để T chở về lại CT để cùng sử dụng ma túy nhưng khi cả hai đi đến đường Trần Phú, phường CK, quận NK thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ ma túy. H khai đã mua ma túy của đối tượng nam 07 lần để sử dụng và thường sử chung với T;
Đối với đối tượng bán ma túy cho hai bị cáo. Do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận NK tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với xe mô tô biển số 65T2 - 0232, số máy 5C64-851088, số khung RLC55C640, CY851085, do Lê Thị Sang ở khu vực Rạch Chanh, phường Thới Long, quận O, thành phố CT đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương không có ai tên Lê Thị Sang. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận NK đã Thông báo tìm chủ sỡ hữu xe mô tô trên.
Quá trình điều tra, hai bị cáo Trần T T và Mai D T H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Tại cáo trạng số 41/CT-VKS-NK ngày 16/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận NK truy tố các bị cáo Mai D T H và Trần T T về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Caên cöù vaøo caùc chöùng cöù vaø taøi lieäu ñaõ ñöôïc thaåm tra taïi phieân toaø; caên cöù vaøo keát quaû tranh luaän taïi phieân toaø treân cô sôû xem xeùt ñaày ñuû, toaøn dieän chöùng cöù, yù kieán cuûa Kieåm saùt vieân, bò caùo vaø nhöõng ngöôøi tham gia toá tuïng khaùc.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Mai D T H và Trần T T đều thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Mai D T H và Trần T T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần T T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Mai D T H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 345/KL-KTHS ngày 24/10/2022 có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố CT.
- Đối với xe mô tô biển số 65T2 – 0232 đề nghị tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu. Nếu hết hạn thông báo không tìm được chủ sở hữu đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
Hội đồng xét xử nhận thấy, Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 0,3776 gam, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng mà các bị cáo Mai D T H và Trần T T thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tệ nạn ma túy là nổi lo chung của toàn xã hội, nó trực tiếp tàn phá sức khỏe, là nguyên nhân làm lan truyền nhiều bệnh xã hội và cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật….….Bị cáo hiểu rỏ tác hại của ma túy cũng như sự nghiêm cấm của pháp luật đối với các hành vi liên quan đến ma túy nhưng vì phục vụ nhu cầu của bản thân bị cáo bất chấp pháp luật. Do vậy để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng để góp phần phòng ngừa chung cho xã hội cần có mức hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian.
Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Trần T T từng có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tang vật: Cần tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số số 345/KL-KTHS ngày 24/10/2022 có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố CT và 01 áo khoác màu đen.
- Đối với xe mô tô biển số 65T2 – 0232 hiện chưa tìm được chủ sở hữu. Tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu. Nếu hết hạn thông báo không tìm được chủ sở hữu sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần T T và Mai D T H phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần T T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2022.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai D T H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2022.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 345/KL-KTHS ngày 24/10/2022 có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố CT và 01 áo khoác màu đen.
- Tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển số 65T2 – 0232. Hết hạn thông báo không tìm được chủ sở hữu sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần T T và Mai D T H, mỗi bị cáo phaûi noäp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nôi nhaän:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa
- TAND TP Caàn Thô;
- VKSND Q.NK;
- Trại giam,
- CA quận NK;
- Cơ quan Thi hành án;
- Bị cáo;
- Löu hoà sô.
Cao Thò Thanh Truùc
Các hội thẩm nhân dân
| Bùi Thanh Trí Nguyễn Văn Sang Các hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Sang Nguyễn Thanh T Caùc hoäi thaåm nhaân daân Nguyeãn Vaên Thaåm Truùc | Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Thanh Trúc Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Thanh Trúc Chuû toïa phieân toøa Leâ Thò Taân An Cao Thò Thanh |