vanban.org

Bản án 31/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HSST
Ngày: 07-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hồ Văn Dũng

2. Ông: Trần Duy Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thái Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử s th m công khai, hình thức trực tuyến, điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn; điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Tri Tôn, vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/HSST, ngày 16 tháng 6 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Lâm Minh Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19-9-1989 tại huyện T, t nh n Giang.

N i cư trú: Tổ 12, khóm 4, thị trấn T, huyện T1, t nh n Giang; số CMND/CCCD: 089089025991; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ văn hóa: Không biết chữ; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Minh H (chết) và bà Trần Thị Y, sinh năm 1968; anh em có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án: Ngày 14-01-2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm tù về t i “tr m cắp tài sản”, ngày 27-9-2022 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2023 đến nay bị cáo có m t tại phiên tòa.

- Bị hại:

Trư ng Thị T sinh năm 1991; địa ch : Khóm T, thị trấn C, huyện T1, t nh An Giang.(vắng m t)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Bảo D, sinh năm 1993; địa ch : Khóm 2, đường Trần Hưng Đạo, thị trấn T, huyện T1, t nh An Giang; (vắng m t)

- Người làm chứng:

Chau S, sinh năm 2005; (vắng m t)

Chau Sa Q, sinh năm 2006; (vắng m t);

Người đại diện hợp pháp Chau Sa Q: Ông Chau Sa V, sinh năm 1975; (vắng m t)

- Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa ch : Ấp Phuôm Pi, xã C, huyện T1 , t nh An Giang;(có m t)

NỘI DUNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 29-11-2022, Lâm Minh Đđiều khiển xe mô tô biển số 67N1-001.06 đến C sở thu mua phế liệu của bà Trư ng Thị T, ngụ khóm Tô Lợi, thị trấn Cô Tô, huyện Tri Tôn, t nh n Giang, thấy có nhiều đồ phế liệu nên nảy sinh ý định lấy tr m đem bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Đ đậu xe mô tô cách khoảng 40m, rồi đi b vào bên trong sân nhà bà T lấy tr m 01 sọt nhựa màu đen đựng dây đồng của các b phận linh kiện điện tử (đã hư hỏng), tổng trọng lượng 13,5kg, đem ra xe mô tô thị bì Chau Sóc, Chau Sa Qui phát hiện, báo cho bà T biết sự việc và trình báo công an. Qua làm việc Đ khai nhận hành vi lấy tr m dây đồng của bà T.

Trước đó, ngày 14-01-2022, Đ bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm tù về t i “Tr m cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 27-9-2022

Đến ngày 24-3-2023, Đ bị khởi tố, bắt giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 sọt nhựa màu đen (kích thước 32 x35x27cm), trọng lượng 1,1kg; dây đồng chưa tháo rời trong các b phận của ti vi, quạt máy, amply, thùng bas, đầu đĩa, tổng trọng lượng 13,5kg; 01 xe mô tô biển số 67N1-001.06, màu xanh, hiệu Wave α , số khung VHLDCH033HL000066, số máy VLF1P52FMH-330011086.

Nguồn gốc số tài sản bị thu giữ bị cáo Lâm Minh Đ khai: Bị cáo lấy tr m tại C sở thu mua phế liệu của bà Trư ng Thị T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 06-12-2022 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn, kết luận: 01 sọt nhựa màu đen, trọng lượng 1,1kg, trị giá 16.500 đồng và dây đồng (trong các b phận của ti vi, quạt máy, ampy, thùng bas, đầu đĩa… chưa được tháo rời) dùng bán phế liệu, tổng trọng lượng 13,5kg trị giá 675.000 đồng. Tổng giá trị 691.500 đồng.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKSTT.HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Lâm Minh Đ về t i “Tr m cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lâm Minh Đkhai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung cáo trạng đã nêu

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng m t tại phiên tòa, quá trình điều tra khai nhận phù hợp với n i dung Cáo trạng đã nêu trên (từ bút lục 107 – 109a; 105-106; 97-99;100-102).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lâm Minh Đđủ yếu tố cấu thành t i Tr m cắp tài sản.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản của H i đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận t i và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: Điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Minh Đ từ 9 (chín) tháng đến 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù về t i “Tr m cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu c thành phần lao đ ng nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, không đ t ra xem xét.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67N1-001.06, màu xanh, hiệu Wave α, số khung VHLDCH033HL000066, số máy VLF1P52FMH-330011086, xét đây là phư ng tiện của bị cáo sử dụng vào việc phạm t i.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Tri Tôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng m t, m c dù Tòa án đã tống Đ giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng m t của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về n i dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lâm Minh Đ đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận t i của bị cáo tại C quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, đ ng c phạm t i và hậu quả do t i phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ s vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên bị cáo Lâm Minh Đ đã từng bị kết án về t i “Tr m cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, tiếp tục có hành vi lấy tr m 01 sọt nhựa màu đen đựng dây đồng của các b phận linh kiện điện tử, tổng giá trị 691.500 đồng của bà Trư ng Thị T.

Hành vi phạm t i nêu trên của bị cáo Lâm Minh Đ đã phạm t i “Tr m cắp tài sản”, t i phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm ho c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm t i của bị cáo Lâm Minh Đ đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bà Trư ng Thị T, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật từ tại địa phư ng, cần xử phạt m t mức án tư ng xứng với hành vi phạm t i của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã h i và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức đ nghiêm trọng của t i phạm, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm t i, H i đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Lâm Minh Đ là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo không lo làm ăn, lười lao đ ng muốn hưởng thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bản thân. Trước khi phạm t i bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 14-01-2022 bị Tòa án nhân dân xử phạt 01 năm tù về t i “Tr m cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 27-9-2022 chưa được xóa án tích đến ngày 29-11-2022 bị cáo thực hiện hành vi tr m cắp tài sản, việc này cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lư ng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại c quan điều tra cũng như phiên tòa bị cáo có thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; phạm t i gây thiệt hại không lớn, trình đ học vấn bị cáo không biết chữ, năng lực nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự nên H i đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng n ng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng n ng theo quy định tại Điều 52 B luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án, hiện nay trên địa bàn thị trấn Tri Tôn các t i phạm về xâm phạm quyền sở hữu có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phư ng và phát sinh các t i phạm khác trong xã h i. Do đó, việc bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã h i là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn m t thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lư ng thiện, người công dân có ích cho xã h i. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tư ng xứng với tính chất mức đ phạm t i mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…”. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên H i đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về tang vật chứng vụ án: Quá trình điều tra c quan điều tra đã tiến hành thu giữ: 01 sọt nhựa màu đen (kích thước 32 x35x27cm), trọng lượng 1,1kg; dây đồng chưa tháo rời trong các b phận của ti vi, quạt máy, amply, thùng bas, đầu đĩa, tổng trọng lượng 13,5kg; 01 xe mô tô biển số 67N1-001.06, màu xanh, hiệu Wave α, số khung VHLDCH033HL000066, số máy VLF1P52FMH-330011086

Đối với: 01 sọt nhựa màu đen (kích thước 32 x35x27cm), trọng lượng 1,1kg; dây đồng chưa tháo rời trong các b phận của ti vi, quạt máy, amply, thùng bas, đầu đĩa, tổng trọng lượng 13,5kg. Quá trình điều tra đã xác định chủ sở hữu và đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

H i đồng xét xử cần áp dụng Điều 46, Điều 47 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng như sau:

Đối với 01 xe mô tô biển số 67N1-001.06, màu xanh, hiệu Wave α, số khung VHLDCH033HL000066, số máy VLF1P52FMH-330011086. Nhận thấy, đây là tài sản của bị cáo sử dụng làm phư ng tiện phạm t i nên tuyên bố tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trư ng Thị T đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường, nên H i đồng xét xử không đ t ra xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Minh Đ (tên gọi khác: Không) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Minh Đ 01 (m t) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01-4-2023 (ngày m t tháng tư năm hai ngàn không trăm hai mư i ba).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự.

Tuyên bố tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67N1 - 001.06, màu xanh, hiệu Wave α, số khung VHLDCH033HL000066, số máy VLF1P52FMH-330011086.

(Toàn b tang vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-6-2023).

Căn cứ vào Điều 136 B luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Bị cáo Lâm Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự s th m.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Đư ng sự vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án ho c được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, từ nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ