vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Uỷ ban nhân dân xã C thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 11 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại

Bà Phan Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh ngày 21/9/1982 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và con bà Nguyễn Thị T; vợ là chị Đào Thị T; Con: 04 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương (có mặt).

* Bị hại:

- Chị Đào Ngọc L, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Thôn X2, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

- Ông Nguyễn Doãn T, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969, (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1994, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 23/10/2022, khi Nguyễn Văn V, sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc điều khiển xe mô tô đi qua phòng trọ của chị Đào Ngọc L, sinh năm 1981 ở thôn X2, xã C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì thấy có 01 xe mô tô để ở bên ngoài cửa phòng trọ. Do trước đó giữa V và chị L có mối quan hệ tình cảm nam nữ với nhau nên V đi vào phòng trọ của chị L thì nhìn thấy chị L và anh Nguyễn Doãn T, sinh năm 1964 ở xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đang cùng nhau, ngồi trên giường xem ti vi, thấy vậy V nói và có thái độ ghen tuông, bực tức. V nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Opopo A73 màu xanh của chị L và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 plus của anh T để trên giường. Do đang bực tức nên V dùng tay phải cầm chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Opopo của chị L ném xuống nền nhà làm ĐTDĐ bị vỡ màn hình và cong vênh phần khung xương của máy, tiếp đó V tiếp tục cầm chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 plus của anh T ném xuống nền nhà làm vỡ nát màn hình, bung rời khỏi thân máy, thân máy cũng bị hỏng hoàn toàn.

Do sợ bị đánh nên anh T bỏ chạy ra ngoài, V đuổi theo được chị L ôm, can ngăn thì V tiếp tục dùng chân phải đạp vào màn hình của chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung loại 50 inch để trên kệ gỗ, làm ti vi bị vỡ màn hình, sau đó V tiếp tục đập vỡ 01 bình thủy tinh đựng nước loại 1.5 lít + 01 ghế nhựa màu xanh, xô đổ 01 bộ loa, âm ly xuống nền nhà, rồi tiếp tục đuổi theo anh T, được chị L ôm giữ lại thì V lấy 01 đoạn gỗ dài 164,5cm, có đường kính trung bình = 03cm của chị L dùng để phơi quần áo, đánh vào vai trái chị L, gây thương tích nhẹ, thì được bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969 và con trai bà T là anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1994 can ngăn. Anh T bỏ chạy được nên không bị V đánh, không có thương tích gì.

* Thu giữ đồ vật có liên quan đến vụ án (tại phòng trọ của chị L): 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A73 bị hư hỏng phần màn hình và khung xương; 01 ti vi nhãn hiệu SamSung loại 50ich bị hư hỏng phần màn hình; 01 chiếc ghế nhựa màu xanh mặt ghế hình vuông có Kích thước 22cmx22cm, chiều cao 26cm bị vỡ; 02 mảnh thủy tinh; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7plus đã bị vỡ, hư hỏng.

Ngày 23/10/2023, bà Nguyễn Thị T (chủ nhà trọ) giao nộp cho cơ quan điều tra 01 gậy gỗ dài 164,5cm, có đường kính trung bình = 03cm, 01 đầu có gắn một chiếc đinh bằng kim loại màu đen, phần đinh nhô ra có KT 04cm, chờ xử lý.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 83 ngày 21/11/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Thành phố Phúc Yên, kết luận: “ 01 chiếc màn hình ti vi nhãn hiệu Sam Sung 50 inch đã qua sử dụng và tiền công lắp đặt màn hình vào ti vi có giá trị là 4.500.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen dung lượng 128 Gb đã qua sử dụng có giá trị 3.800.000đ; 01 màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A73 đã qua sử dụng, 01 khung xương điện thoại di động nhãn hiệu OppoA73 đã qua sử dụng và tiền công lắp ráp màn hình, khung xương của điện thoại Oppo A73 vào phần Main và mặt lưng của điện thoại di động Oppo A73 có giá trị 1.700.000đ; 01 bình đựng nước bằng thủy tinh loại 1.5l đã qua sử dụng có giá trị 20.000đ; 01 ghế nhựa màu xanh mặt ghế hình vuông có KT 22cm x22cm, ghế cao 26cm đã qua sử dụng có giá trị 15.000đ.

Tổng trị giá thiệt hại các tài sản nêu trên vào ngày 23/10/2022 là 10.035.000đ”.

Như vậy, tài sản bị hủy hoại có trị giá = 3.800.000đ + 20.000đ + 15.000đ = 3.835.000đ; tài sản bị cố ý làm hư hỏng có trị giá = 4.500.000đ + 1.700.000đ = 6.200.000đ.

Ngày 30/11/2022, CQĐT quyết định trưng cầu giám định sức khỏe đối với chị Đào Ngọc L, do chỉ bị xây sát nhẹ và không đi điều trị tại đâu nên chị L đã từ chối đến Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định thương tích, không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với V về hành vi cố ý gây thương tích, không yêu cầu V phải bồi thường về hành vi cố ý gây thương tích.

Ngày 22/02/2023, Công an thành phố Phúc Yên đã quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn V về hành vi: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Quyết định số 07 ngày 22/02/2023).

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V đã xin lỗi và khắc phục hậu quả theo sự thỏa thuận, bồi thường cho chị L 15.500.000đ và anh T 9.000.000đ, đến nay chị L và anh T không yêu cầu V phải bồi thường gì thêm.

* Xử lý vật chứng: Ngày 20/02/2023, CQĐT đã trả lại cho chị L 01 chiếc ti vi và 01 ĐTDĐ, có đặc điểm như đã nêu trên; Đối với 02 mảnh thủy tinh, 01 chiếc ghế nhựa, 01 chiếc gậy gỗ và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone đã bị hỏng hoàn toàn, chị L và anh T xác định không còn giá trị sử dụng nên từ chối nhận lại, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Thời điểm xảy ra vụ án, tại khu nhà trọ, mọi người đều đi làm, không có người ở các phòng trọ, sự việc diễn ra nhanh, nên hành vi của V không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu nhà trọ và khu vực xung quanh, do vậy hành vi của V không cấu thành tội gây rối trật tự công cộng.

Tại Cáo trạng số: 30/CT - VKSPY ngày 10 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng. Hành vi phạm tội của bị cáo là do ghen tuông bột phát, giữa bị cáo và chị Đào Thị Ngọc L trước đó đã có mâu thuẫn về việc chị L yêu cầu bị cáo chấm dứt mối quan hệ tình cảm nên bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại chị Đào Ngọc L tại phiên tòa trình bày: Trước đây chị và bị cáo có mối quan hệ tình cảm, sau đó đã chấm dứt nhưng vẫn là bạn bè, giữa chị và bị cáo V trước khi sự việc sảy ra đã có mâu thuẫn do chị yêu cầu V chấm dứt mối quan hệ tình cảm đó để chị có mối quan hệ bạn bè khác, hành vi của bị cáo chỉ là ghen tuông bột phát, chị đã nhận được số tiền là 15.500.000đồng là tiền bồi thường của bị cáo nay chị không có đề nghị gì khác và chị đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại ông Nguyễn Doãn T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị: Ông đã nhận được số tiền 9.000.000đồng là tiền bồi thường của bị cáo nay ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Văn V; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng khoản 1, Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V từ 09 (Chín) tháng đến 11 (Mười một) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 22 (Hai hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh thủy tinh, 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã vỡ, 01 chiếc gậy gỗ dài 164,5cm, đường kính trung bình = 03cm một đầu có gắn 01 chiếc đinh bằng kim loại màu đen, phần đinh nhô ra có KT 04cm và 01 điện thoại di động Iphone đã bị hỏng.

Về án phí sơ thẩm: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 23/10/2022, tại phòng trọ của chị Đào Ngọc L ở thôn X2, xã C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn V, sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản của: Chị Đào Ngọc L, sinh năm 1981, ở thôn Đ, xã C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo, 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung, 01 bình đựng nước bằng thủy tinh loại 1.5l, 01 chiếc ghế nhựa màu xanh; Anh Nguyễn Doãn T, sinh năm 1964 ở xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7plus.

Tổng trị giá thiệt hại = 10.035.000đồng, trong đó: tài sản bị hủy hoại có trị giá = 3.835.000đồng; tài sản bị cố ý làm hư hỏng có trị giá = 6.200.000đồng.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn V vừa có hành vi hủy hoại, vừa có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị hại nhưng các hành vi này có liên quan chặt chẽ với nhau, theo Bộ luật hình sự quy định là tội ghép nên bị cáo bị điều tra, truy tố, xét xử về tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự mà không tách thành hai tội.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định:

1.“Người nào hủy hoại ... cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 30/CT - VKSPY ngày 10 tháng 3 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Đối chiếu với yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương cần phải xử phạt bị cáo nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Giữa bị cáo và chị L trước đây đã từng có quan hệ tình cảm, mặc dù đã chấm dứt nhưng hai người vẫn là bạn bè, do thấy chị L có mối quan hệ với người khác nên bị cáo V đã tỏ ra ghen tuông, trước khi sự việc xảy ra giữa hai bên cũng đã có mâu thuẫn do chị L đòi chấm dứt mối quan hệ tình cảm giữa hai người, do vậy ngày 23/10/2022 mới bột phát nảy sinh hành vi phạm tội. Trước khi phạm tội bị cáo V là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn V được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng được khoan hồng, bị cáo có chỗ ở ổn định, có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Văn V vừa có hành vi hủy hoại, vừa có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị hại nên cần xử phạt bị cáo ở mức cao hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của người khác, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có thu nhập nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên căn cứ vào nhân thân hiện nay bị cáo Nguyễn Văn V là lao động tự do, có thu nhập nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền ở mức khởi điểm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại và các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh thủy tinh, 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã vỡ, 01 chiếc gậy gỗ dài 164,5cm, đường kính trung bình = 03cm một đầu có gắn 01 chiếc đinh bằng kim loại màu đen, phần đinh nhô ra có KT 04cm và 01 điện thoại di động Iphone đã bị hỏng.

Về hành vi gây thương tích cho chị L: Ngày 30/11/2022, CQĐT quyết định trưng cầu giám định sức khỏe đối với chị Đào Ngọc L, do chỉ bị xây sát nhẹ và không đi điều trị tại đâu nên chị L đã từ chối đến Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định thương tích, không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với V về hành vi cố ý gây thương tích, không yêu cầu V phải bồi thường về hành vi cố ý gây thương tích. Ngày 22/02/2023, Công an thành phố Phúc Yên đã quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn V về hành vi: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Quyết định số 07 ngày 22/02/2023) là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1, 5 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo V số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Uỷ ban nhân dân xã C thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh thủy tinh, 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã vỡ, 01 chiếc gậy gỗ dài 164,5cm, đường kính trung bình = 03cm một đầu có gắn 01 chiếc đinh bằng kim loại màu đen, phần đinh nhô ra có KT 04cm và 01 điện thoại di động Iphone đã bị hỏng.

(Tất cả vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Cỡ chữ