vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Cao Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Cao Thế T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/02/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy 0,2219 gam MDMA (đã trừ mẫu giám định) đựng trong 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Cao Thế T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Cao Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày: 30/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Sỹ Hùng

Ông Dương Cao Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trí Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Lành – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Cao Thế T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/10/2002 tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn H và bà Phan Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2023 đến nay – Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Như Ý; sinh năm 2001; trú tại: Số nhà B, sẹc A, đường V, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do – Có mặt

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đình Đ; sinh năm 2002; Trú tại: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – Có mặt

2. Chị Nguyễn Thị Khánh H1; sinh năm: 2003; Trú tại: Tổ A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt

3. Chị Phan Thị Hồng N; sinh năm 2002; Trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt

4. Anh Nguyễn Thừa V; sinh năm 2002; Trú tại: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – Có mặt

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Viết C; sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố G, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 13/02/2023, tại khu vực trước quán bar Q ở địa chỉ số C ngõ F đường H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Cao Thế T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong xe ô tô nhãn hiệu MG5 màu trắng, biển kiểm soát: 67A-213.43, thu giữ của T 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4,5cm x 7,5cm bên trong đựng 01 viên nén màu tím nghi là ma tuý (ký hiệu M1); 02 túi ni lông trong suốt có cùng kích thước 2cm x 2,5cm đều chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (Ký hiệu lần lượt M2, M3). Cao Thế T khai nhận viên nén màu tím là ma tuý thuốc lắc, chất tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine của T được một người bạn (không có thông tin, địa chỉ cụ thể) cho để sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của Phòng Kỷ thuật Công an tỉnh H kết luận: 01 viên nén màu tím đựng trong túi ni lông trong suốt kích thước 4,5cm x 7,5cm (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, là MDMA có khối lượng 0,4541 gam; Chất tinh thể màu trắng đựng trong túi ni lông trong suốt kích thước 2cm x 2,5cm (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, là Ketamine có khối lượng 0,3774 gam; Chất tinh thể màu trắng đựng trong túi ni lông trong suốt kích thước 2cm x 2,5cm (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, là Ketamine có khối lượng 0,3893 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cao Thế T khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/02/2023 tại một quán nhậu ở thành phố P, tỉnh Hà Nam, T gặp một người bạn tên C (không có thông tin, địa chỉ cụ thể) và được C cho 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4,5cm x 7,5cm đựng 01 viên nén màu tím là ma túy MDMA và 02 túi ni lông trong suốt cùng kích thước 2cm x 2,5cm đựng chất tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. Sau đó, T cất giấu số ma túy nói trên dưới tấm lót sàn màu đen ở vị trí ghế lái của chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5 màu trắng, biển kiểm soát: 67A-213.43 mà T mượn của bạn gái là chị Trần Thị Như Ý từ ngày 23/12/2022 để làm phương tiện đi lại. Mục đích cất giấu để khi nào T có nhu cầu thì lấy ra sử dụng. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/02/2023, Cao Thế T cùng với Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Thừa V, Nguyễn Thị Khánh H1 và Phan Thị Hồng N đi ăn uống tại quán nhậu ở địa chỉ số A đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhậu xong T rủ và lái chiếc xe ô tô nói trên chở Đ, H1, N và V đi đến quán bar Q ở địa chỉ số C ngõ F đường H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để tiếp tục uống bia rượu và nghe nhạc. Tại đây, ngồi chơi được một lúc thì Nguyễn Thừa V có việc nên đi về trước. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Cao Thế T, Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Thị Khánh H1 và Phan Thị Hồng N đi ra xe ô tô để đi về. Lúc này H1 thấy T và Đ đã uống nhiều bia rượu nên nói với T để H1 lùi xe ô tô ra cho rồi ngồi lên ghế lái, N ngồi ghế phụ, Đ và T ngồi ghế sau của xe ô tô nói trên. Khi vừa ngồi lên xe ô tô thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện dưới lót sàn ở vị trí ghế lái của xe ô tô có 01 túi ni lông trong suốt bên trong chứa 01 viên nén màu tím, 02 túi ni lông trong suốt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Lúc này, Cao Thế T khai nhận viên nén màu tím là ma tuý thuốc lắc, chất tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine. Việc T tàng trữ trái phép số ma túy nói trên Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Thị Khánh H1, Phan Thị Hồng N và Nguyễn Thừa V đều không biết. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cao Thế T, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-TPHT ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Cao Thế T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Cao Thế T từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/02/2023; Hình phạt bổ sung: Không; Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng.

Tại phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 22 giờ 45 phút ngày 13/02/2023, tại khu vực trước quán bar Q ở địa chỉ số C ngõ F đường H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Cao Thế T có hành vi tàng trữ trái phép 0,4541 gam ma túy MDMA và 0,7667 gam ma túy Ketamine để sử dụng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 0,2219 gam MDMA (đã trừ mẫu giám định) được đựng trong 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4,5cm x 7,5cm; 0,6529 gam Ketamine (đã trừ mẫu giám định) được đựng trong 02 túi ni lông trong suốt cùng kích thước 2cm x 2,5cm là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu MG5 màu trắng, biển kiểm soát 67A-213.43 đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Trần Thị Như Ý là có căn cứ.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo số ma túy trên T được một người bạn tên C ở thành phố P, tỉnh Hà Nam cho. Tuy nhiên, thông tin về người này không rõ ràng nên không có căn cứ điều tra, xử lý. Đối với chị Trần Thị Như Ý đã cho Cao Thế T mượn chiếc xe ô tô và Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Thị Khánh H1, Phan Thị Hồng N và Nguyễn Thừa V đã ngồi trên xe ô tô khi bị cáo bị bắt quả tang nhưng những người này đều không biết T tàng trữ ma túy trên xe ô tô nên không xử lý đối với chị Trần Thị Như Ý, anh Nguyễn Đình Đ, chị Nguyễn Thị Khánh H1, chị Phan Thị Hồng N và anh Nguyễn Thừa V là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Cao Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Cao Thế T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/02/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy 0,2219 gam MDMA (đã trừ mẫu giám định) đựng trong 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4,5cm x 7,5cm và 0,6529 gam Ketamine (đã trừ mẫu giám định) được đựng trong 02 túi ni lông trong suốt cùng kích thước 2cm x 2,5cm.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Cao Thế T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ