vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bạch Hưng N 06 (sáu) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 10 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 522MT/PC09 đựng vỏ bao gói của mẫu vật và chất ma túy cùng còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động có phím bấm màu đen số IMEI: 353101… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bạch Hưng N 06 (sáu) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 10 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 28-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an thành phố Hải Phòng vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Bạch Hưng N, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1991 tại N. Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Hưng V (đã chết) và bà Hoàng Thị S; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 13/2019/HSST ngày 28/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh N xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 51/2021/HSST ngày 20/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 24/2013/HSST ngày 28/02/2013, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị tạm giữ ngày 05/10/2022, tạm giam ngày 12/10/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, Công an phường Lam Sơn, quận Lê Chân thực hiện công tác tuần tra, khi đến trước cửa nhà số 31/97 Cầu Cáp, phường Lam Sơn, quận Lê Chân phát hiện Bạch Hưng N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M8-1697 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu N dừng xe để kiểm tra thì N thả từ tay trái xuống dưới đất 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long. Tổ công tác thu giữ tại vị trí cách chân trái của N khoảng 20cm 01 vỏ bao thuốc lá trên, kiểm tra bên trong có 01 gói giấy nilon màu trắng, mép viền màu đỏ đựng 02 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 16M8-1697; số tiền 200.000đ. Tổ công tác đưa N cùng toàn bộ tang vật thu giữ về trụ sở công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 522/KLGĐ-MT ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột thu giữ của Bạch Hưng N gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,17gam, là loại heroin”.

Tại cơ quan điều tra, xét hỏi, ban đầu Bạch Hưng N không thừa nhận vỏ bao thuốc lá trên là của mình, sau đó N khai: Khoảng 10 giờ ngày 04/10/2022, N điều khiển xe mô tô trên đi từ nơi làm thuê ở đường Ngô Gia Tự, quận Hải An, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây N gặp một nam giới không quen biết, người nam giới nói với N là có 180.000 đồng và rủ N góp tiền mua chung ma túy. N đồng ý và nói sẽ góp 200.000 đồng. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đi theo người nam giới trên đến khu vực cầu Cáp, phường Lam Sơn, quận Lê Chân, Hải Phòng vào một ngách nhỏ. Người nam giới bảo N đưa tiền và đứng đợi anh ta đi sâu vào trong ngách, khoảng hơn 1 phút sau quay lại đưa cho N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. N biết trong đó có ma túy nên cầm vỏ bao thuốc lá bằng tay trái, người nam giới nói với N cứ đi ra ngã ba trước rồi anh ta ra sau. Khi N ra đến ngã ba trước cửa nhà số 31/97 Cầu Cáp, phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thì bị lực lượng Công an phường kiểm tra, bắt giữ và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Bạch Hưng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ N quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bạch Hưng N từ 06 (sáu) đến 07 (bẩy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại Nokia nhãn hiệu màu đen và số tiền 200.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 16M8-1697, quá trình điều tra, xác minh đã xác định thuộc sở hữu hợp pháp của anh Phạm Văn Phùng; địa chỉ tại xóm Tân Phú, xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh N là người cùng làm thuê với N, Cơ quan cảnh sát điều tra –Công an quận Lê Chân dã trả lại anh Phùng nên không đề nghị xem xét.

Đối với nam giới đi mua ma túy cho N, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra, làm rõ nên nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, Hội đồng xét xử làm rõ: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/10/2022 tại trước cửa nhà số 31/97 Cầu Cáp, phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Bạch Hưng N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,17 gam heroine với mục đích sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có 2 tiền án chưa xóa án tích nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là “tái phạm nguy hiểm”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, tội phạm bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, do đó cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bạch Hưng N 06 (sáu) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 10 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 522MT/PC09 đựng vỏ bao gói của mẫu vật và chất ma túy cùng còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động có phím bấm màu đen số IMEI: 353101119288909 và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ lại số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án khoản án phí đối với bị cáo (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng và ủy nhiệm chi ngày 14/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ