vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí K phạm tội “Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ

quan, tổ chức”; của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trí K phạm tội "Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí K phạm tội “Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày: 22 -02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Bà Võ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò

Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2023/HSST ngày 10/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 30/01/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Trí K; Giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại Vĩnh Long; Hộ khẩu thường

trú: xã Tân Bình, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: Bị cáo không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Văn M và bà Phan Thị Hồng H (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 04/2021, Nguyễn Trí K lên mạng đặt làm giả một căn cước

công dân tên Trang Tiểu B để làm tài khoản ngân hàng với mục đích để tên thể hiện trên tài khoản ngân hàng trùng với tên K thường dùng khi chơi game là “Tiểu Bảo”. Để thực hiện, K dùng điện thoại chụp ảnh thẻ của mình gửi cho người nhận làm qua tài khoản Zalo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và đề nghị làm căn cước công dân tên “Trang Tiểu B" với giá 500.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, tài khoản Zalo trên gọi điện cho K nói có người qua giao căn cước công dân mà K đặt làm giả. Lúc này, K đang ở trọ tại phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thì có người gọi điện thoại giao hàng cho K. K kiểm tra thì thấy có một căn cước công dân số 001094031201, mang tên Trang Tiểu B, sinh ngày 10/11/1994, Nơi thường trú: Phường 04, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh có ảnh của K đúng như yêu cầu nên K nhận và đưa cho người giao hàng 500.000 đồng như đã thỏa thuận.

Sau khi có được Căn cước công dân giả trên, K tải ứng dụng của Ngân hàng

MB Bank trên điện thoại, dùng thông tin trên căn cước công dân giả đăng ký một tài khoản ngân hàng MB Bank với số tài khoản 1995131201 và đăng ký cấp thẻ ATM kèm theo số tài khoản trên. Sau đó, K ra ngân hàng MB Bank, Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thẻ ATM. Sau khi có được số tài khoản và thẻ ATM, K thực hiện các giao dịch chuyển tiền bình thường. Đến ngày 16/8/2022, K muốn định danh tài khoản để được sử dụng hết các tính năng nên K đã nhờ bạn cùng chơi game là Nguyễn Trương Trường D chở ra ngân hàng MB Bank địa chỉ nêu trên trên để làm thủ tục định danh. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Cẩm N - nhân viên ngân hàng phát hiện K sử dụng Căn cước công dân giả nên đã trình báo Công an phường 10, quận Gò Vấp.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trí K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như

đã nêu trên .

Vật chứng thu giữ:

- 01 căn cước công dân số 001094031201, mang tên Trang Tiểu B, sinh ngày

10/11/1994, Nơi thường trú: Phường 04, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. 01 thẻ Ngân hàng MB Bank tên Trang Tiểu B.

- 01 (một) chứng minh nhân dân số 331779162, mang tên Nguyễn Trí K, sinh

ngày 10/11/1996, Nơi ĐKHK thường trú: Tân Bình, Bình Tân, Vĩnh Long (đã trả cho bị cáo).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp tiến hành trưng cầu giám

định đối với căn cước công dân và chứng minh nhân dân thu giữ được của Nguyễn Trí K. Căn cứ bản Kết luận giám định số 5101/KL-KTHS ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Căn cước công dân số 00109403120 tên Trang Tiểu B là giả; Chứng minh nhân dân số 331779162 có bản in phôi là thật, nhưng không đủ cơ sở kết luận hình dấu, chữ ký là thật hay giả do không có mẫu so sánh” (BL: 34).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp tiếp tục có Quyết định trưng

cầu giám định số 490 ngày 25 tháng 11 năm 2022, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long giám định hình dấu trên Chứng minh nhân dân số 331779162 nói trên. Căn cứ bản Kết luận giám định số 904/KL-KTHS ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: “Hình dấu Công an tỉnh Vĩnh Long trên Chứng minh nhân dân số 331779162, mang tên Nguyễn Trí K, sinh ngày 10/11/1996, Nơi ĐKHK thường trú: Tân Hậu, Tân Bình, Bình Tân, Vĩnh Long do Công an tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 14/02/2012 có chữ ký ông Lê Văn U là thật”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã ra trao trả lại chứng minh nhân trên cho Nguyễn Trí K.

Đối với Nguyễn Trương Trường D chỉ giúp chở K đến ngân hàng, không biết

và không liên quan đến việc làm giả căn cước công dân của K nên không đủ căn cứ xử lý D với vai trò đồng phạm .

Đối với đối tượng không rõ lai lịch K liên hệ qua tài khoản Zalo để làm giả

căn cước công dân. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 22/CTr-VKS ngày 09/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân

dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Trí K về tội “làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề

nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí K từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng đề nghị:

- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 căn cước công dân số 001094031201, mang

tên Trang Tiểu B, sinh ngày 10/11/1994, Nơi thường trú: Phường 04, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, 01 thẻ Ngân hàng MB Bank tên Trang Tiểu B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò

Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp

công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Trí K đã khai nhận hành vi phạm tội “làm giả con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật vụ án được thu

giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Trí K đã phạm vào tội “Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bỡi lẽ đã xâm phạm đến trật tự

quản lý hành chính Nhà Nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, đến các hoạt động của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn tiếp tay tạo điều kiện thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội khác ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cộng đồng dân cư trong xã hội, bị cáo có đủ năng lực nhận thức để biết rõ hành vi làm giả con dấu giấy tờ hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhà nước là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn kiếm tiền tiêu xài nên bị cáo đã đặt đối tượng trên mạng xã hội làm giả 01 căn cước công dân số 001094031201, mang tên Trang Tiểu B mục đích để mở tài khoản ở ngân hàng MB để rút tiền, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm pháp luật. Do bị cáo đã đặt đối tượng khác làm 01 căn cước công dân số 001094031201, mang tên Trang Tiểu B qua giám định là giả, nên Viện kiểm sát quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do đó cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do bị cáo không có nơi cư trú ổn định, nên Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết, tại Cơ quan

điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân bị cáo tốt chưa có tiền án, tiền sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 4 điều 341 Bộ luật hình sự

năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 căn cước công dân số 001094031201, mang tên Trang Tiểu B,

sinh ngày 10/11/1994, nơi thường trú: Tân Phước, phường 04, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, qua giám định là giả và 01 thẻ ngân hàng MB Bank tên Trang Tiểu B là vật chứng vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với đối tượng làm giả căn cước công dân cho bị cáo do chưa xác định

được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

- Đối với Nguyễn Trương Trường D chỉ giúp chở bị cáo K đến ngân hàng,

không biết và không liên quan đến việc làm giả căn cước công dân của K nên không đủ căn cứ xử lý D với vai trò đồng phạm.

Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí K phạm tội “Làm giả con dấu hoặc tài liệu của cơ

quan, tổ chức”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38

của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí K 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 căn cước công dân số 001094031201, mang

tên Trang Tiểu B, sinh ngày 10/11/1994, nơi thường trú: Tân Phước, phường 04, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, 01 thẻ Ngân hàng MB Bank tên Trang Tiểu B.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ

ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhân:

Cỡ chữ