vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Anh T và Lê Văn Sơn "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 28-09-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Danh Vượng.

Bà Đoàn Thị Mến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí D- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1) Hà Anh T (tên gọi khác: Lê Hà A T), sinh ngày 19/7/1987, tại Phú Thọ; Hộ khẩu thường trú : Khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ và bà Hà Thị S; Có vợ là Hà Thị Vân A1 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010 và con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: không; Tiền sự: không;

Nhân thân:

Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 tháng 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bản án số 57/2011/HSST ngày 09/11/2011), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và nghĩa vụ án phí;

Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 42 tháng tù về tôi “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 46/2016/HSST ngày 28/7/2016), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và nghĩa vụ án phí.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

2) Lê Văn S1, sinh ngày 03/9/1986; tại Phú Thọ; Nơi cư trú : Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ1 và bà Hà Thị Đ2; có vợ là Lương Thị H và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007 và con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: không;

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH T5. Địa chỉ trụ sở: Tổ H, thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh H1 – Chức vụ: Giám đốc; Trú tại: Tổ D, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Đức T1, sinh năm 1990. Trú tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

Người làm chứng:

Hoàng Thanh P, sinh năm 1958. Trú tại: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/3/2023 T rủ S1 đi trộm cắp tài sản S1 đồng ý. Khoảng 01 giờ ngày 15/3/2023, T tháo, cất biển số 19K1-218.85 của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, rồi S1 điều khiển xe không có biển số chở T đi từ nhà trọ đến Công trình xây dựng Khu D tại ấp B, xã B, huyện X. Tại đây, có nhiều xe máy xúc máy đào của Công ty TNHH T5, cả hai đi vào tìm trộm cắp hộp điều khiển xe công trình nhưng không có dụng cụ mở ốc nên không thực hiện được.

Để trộm cắp được các hộp điều khiển xe nêu trên, chiều ngày 15/3/2023, T đi mua dụng cụ mở ốc gồm: Cờ-Lê, M-L, T2-Vít, khóa chữ T.... đưa về phòng trọ cất giữ đến khoảng 00 giờ ngày 16/3/2023 T gọi S1 dậy đi trộm cắp, S1 điều khiển xe mô tô nêu trên chở T quay lại bãi đậu xe của của Công ty TNHH T5; cả hai dừng xe bên ngoài hàng rào rồi mang theo dụng cụ mở ốc, chui qua lỗ hổng dưới chân hàng rào bằng tôn, đột nhập vào bên trong, thì phát hiện trên đồi cát có một xe máy đào hiệu Hitachi 350 màu cam, T leo lên mở cửa xe (cửa không khóa) vào trong Cabin buồng lái, T sử dụng điện thoại làm đèn Pin chiếu sang, rồi sử dụng Cờ - Lê mở ốc, rút jack cắm thiết bị, trộm cắp được 02 hộp thiết bị điều khiển (một hộp có mã số X4428088.02411 18000 và một hộp có mã số ICX 03X80 05019194416 *0004136*), trong lúc T tháo thiết bị thì S1 đứng bên ngoài trên bánh xích xe cảnh giới và giữ cửa xe để không bị gió thổi đập cửa.

Cũng với phương pháp nêu trên, T và S1 tiếp tục trộm cắp thêm 01 hộp điều khiển mã số ICx 03X80 05019194416 *0004136* của xe máy đào hiệu Kobelco 350. Trên đường đi về phòng trọ T và S1 đã bị Công an xã B, huyện X phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 22/03/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện X xác định tại thời điểm xảy ra vụ án, 03 bộ điều khiển nêu trên trị giá là 89.500.000 đồng (T3 mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng chẵn).

Xử lý vật chứng:

03 bộ điều khiển xe nêu trên, sau khi tạm giữ, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho Công TNHH tư vấn đầu tư xây dựng M1;

Đối với xe mô tô biển số 19K1-218.85 do ông Lê Đức T1 là chủ sở hữu đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe do Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 16/3/2016. Ông T1 cho S1 mượn làm phương tiện đi lại, không biết S1 sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp (ông T1 là em của S1).

Đối với 01(một) kìm bấm tay bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ, xám; 01(một) Mỏ-Lết bằng kim loại, màu bạc, dài 20cm, nhãn hiệu FORGED STEEL; 01(một) Tu-Vít bằng kim loại dài 19cm, 01 đầu bọc nhựa, màu trong suốt, đỏ, trên thân có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01(một) Cờ- L, 02 đầu khóa 10, dài 14cm, có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) Cờ-Lê bằng kim loại, dài 13cm, một đầu khóa 12, một đầu khóa 10, có dòng chữ ATC; 01 (một) Tu-vít bằng kim loại dài 13,5cm, 01 đầu bọc nhựa tay cầm màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01(một) Khóa chữ T, bằng kim loại, dài 18cm, không rõ nhãn hiệu là của T mua dùng làm công cụ phạm tội.

Đối với 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu cam, số Imei 1: 864611054283766/01 là của S1 nhưng không dùng vào việc phạm tội; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S, màu xám bạc, số imei: 35 856707 6115928 là của T dùng làm đèn Pin để thực hiện hành vi trộm cắp.

Xử lý vật chứng: Ông Nguyễn Thanh H1 là Giám đốc của Công ty TNHH T5 đã nhận lại nguyên vẹn toàn bộ số tài sản và không yêu bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc trình bày ý kiến luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-XM ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đối với bị cáo Hà Anh T và Lê Văn S1 về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo T từ 03 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo S1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị:

Hoàn trả cho ông Lê Đức T1:

01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, không gắn biển số, số máy: HC12E-7136400, số khung: RLHHC1254FY136358. Tình trạng xe sử dụng bình thường; 01 (một) biển số mang số 19K1-218.85.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

01 (một) kềm bấm tay bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ, xám; 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu bạc, dài 20cm, nhãn hiệu FORGED STEEL; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 19cm, 01 đầu bọc nhựa, màu trong suốtđỏ. Trên thân có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, 02 đầu khóa 10, dài 14cm, có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, dài 13cm, một đầu khóa 12, một đầu khóa 10, có dòng chữ ATC; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 13,5cm, 01 đầu bọc nhựa tay cầm màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khóa chữ T, bằng kim loại, dài 18cm, không rõ nhãn hiệu;

Đề nghị tịch thu sung công quỹ:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu cam, số imei 1: 864611054283766/01.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S, màu xám bạc, số imei: 35 856707 611592 8.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không bào chữa, tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tình tiết vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Để có tiền tiêu xái cá nhân, rạng sáng ngày 16/3/2023, tại ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Hà Anh T (Lê Hà Anh T4) và Lê Văn S1 đã lợi dụng đêm tối đột nhập vào bãi đậu xe chuyên dùng của Công ty TNHH T5, trộm cắp 02 hộp điều khiển của xe máy đào hiệu Hitachi 350 và 01 hộp điều khiển của xe máy đào hiệu Kobelco.

Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 22/03/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện X xác định tại thời điểm xảy ra vụ án, 03 bộ điều khiển nêu trên trị giá là 89.500.000 đồng (T3 mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng chẵn).

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không bị khiếm khuyết về thể chất và tinh thần, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong vụ án bị cáo T4 là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ phương tiện và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo S1. Bị cáo S1 là đồng phạm giúp sức tích cực, sử dụng xe mô tô chở bị cáo T4 đi, đồng thời cảnh giới cho T4 thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh H1 là Giám đốc của Công ty TNHH T5 đã nhận lại nguyên vẹn toàn bộ số tài sản và không yêu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, không gắn biển số, số máy: HC12E-7136400, số khung: RLHHC1254FY136358. Tình trạng xe sử dụng bình thường; 01 (một) biển số mang số 19K1-218.85; là tài sản của ông T1, khi bị cáo S1 mượn xe của ông T1 đi trộm cắp tài sản ông T1 không biết nên hoàn trả lại cho ông T1;

01 (một) kềm bấm tay bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ, xám; 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu bạc, dài 20cm, nhãn hiệu FORGED STEEL; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 19cm, 01 đầu bọc nhựa, màu trong suốtđỏ. Trên thân có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, 02 đầu khóa 10, dài 14cm, có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, dài 13cm, một đầu khóa 12, một đầu khóa 10, có dòng chữ ATC; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 13,5cm, 01 đầu bọc nhựa tay cầm màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khóa chữ T, bằng kim loại, dài 18cm, không rõ nhãn hiệu; Là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu cam, số imei 1: 864611054283766/01 bị cáo S1 không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung công quỹ.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S, màu xám bạc, số imei: 35 856707 611592 8, bị cáo T4 sử dụng để làm đen P1 để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Hà Anh T4 (Lê Hà Anh T4) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hà Anh T4 (Lê Hà Anh T4) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2023.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn S1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

Hoàn trả cho ông Lê Đức T1:

01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, không gắn biển số, số máy: HC12E-7136400, số khung: RLHHC1254FY136358. Tình trạng xe sử dụng bình thường; 01 (một) biển số mang số 19K1-218.85.

Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) kềm bấm tay bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ, xám; 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, màu bạc, dài 20cm, nhãn hiệu FORGED STEEL; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 19cm, 01 đầu bọc nhựa, màu trong suốt đỏ. Trên thân có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, 02 đầu khóa 10, dài 14cm, có dòng chữ CHROME VANADIUM; 01 (một) cờ lê bằng kim loại, dài 13cm, một đầu khóa 12, một đầu khóa 10, có dòng chữ ATC; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 13,5cm, 01 đầu bọc nhựa tay cầm màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khóa chữ T, bằng kim loại, dài 18cm, không rõ nhãn hiệu;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu cam, số imei 1: 864611054283766/01.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S, màu xám bạc, số imei: 35 856707 6115928.

(Vật chứng thu giữ đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 88/BB, ngày 30/8/2023).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Anh T4 (Lê Hà Anh T4) và Lê Văn S1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Danh Vượng Đoàn Thị Mến

Nguyễn Thị Thảo Sương

Cỡ chữ