- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh C trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày 19-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Thanh.
Ông Hoàng Văn Thưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Nhà văn hóa khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh C (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 26 tháng 9 năm 1979, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1952; vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không có;
- Tiền án: Có 02 tiền án; tại bản án số 09/2015/HS-ST ngày 21/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng đã xử phạt 24 tháng tù, bồi thường dân sự 12.500.000 đồng về tội trộm cắp tài sản. Ngày 24/01/2017 đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa thực hiện bồi thường dân sự. Tại bản án số 81/2018/HS-ST ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng xử phạt 02 năm 6 tháng tù, bồi thường dân sự 5.000.000 đồng về tội trộm cắp tài sản. Ngày 05/01/2021 chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành bồi thường dân sự.
- Nhân thân: Ngày 18/5/2014, bị Công an thị trấn H, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 21/7/2014, UBND thị trấn H, huyện H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, thời hạn 03 tháng, lý do áp dụng Nguyễn Mạnh C là người nghiện ma túy thường xuyên trộm cắp tài sản. Ngày 23/10/2014 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/3/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Lâm nghiệp Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đắc T. Chức vụ: Phó giám đốc. (Văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023). Địa chỉ: Đường X, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Văn L. Chức vụ: Hiệu trưởng. Địa chỉ: Khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Đoàn Thị Ánh P, sinh năm 1962. Vắng mặt.
2. Bà Đào Thùy Linh, sinh năm 1992. Vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1972. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 07/3/2023, Nguyễn Mạnh C đi bộ từ nhà, đem theo các dụng cụ gồm: Đục gỗ, dao rọc giấy, kìm và kéo đến khu vực trạm biến áp tại vườn ươm trạm sản xuất giống cây lâm nghiệp của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) ở khu N, thị trấn H, huyện H, trèo qua tường vào trong để cắt trộm dây điện.
Nguyễn Mạnh C đi đến vị trí hộp công tơ điện ở cột trạm biến áp, ngắt cầu dao điện đường dây của Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện H, rồi lấy kìm cắt đầu dây cáp điện nối với hộp công tơ, dùng hai tay kéo phần dây cáp điện được chôn dưới đất lên được 7,5m rồi dùng kìm điện cắt đứt đoạn dây trên, dùng dao rọc giấy tách vỏ dây cáp điện vừa cắt được lấy 04 lõi dây đồng bên trong, quấn thành 04 cuộn nhỏ để ở gần trạm biến áp.
Nguyễn Mạnh C tiếp tục đi đến khu nhà điều hành cũ của Công ty Đ, Nguyễn Mạnh C tìm thấy trên nền đất phía trước nhà điều hành có một thanh sắt bằng kim loại hình chữ V, một đầu nhọn nên nhặt thanh sắt, cậy bật ổ khóa cửa rồi đi vào trong. Nguyễn Mạnh C quan sát thấy dây cáp điện được chôn dưới nền nhà dọc theo hai bên hành lang, tại nhà vệ sinh gần cửa ra vào có một chiếc cuốc bằng kim loại, tra cán gỗ. Nguyễn Mạnh C lấy chiếc cuốc, đào bật lớp đá granito nền nhà dọc hai bên hành lang rồi dùng kìm cắt được 22,5m dây cáp điện sau đó dùng dao rọc giấy và kéo tách lấy 04 lõi dây đồng bên trong, rồi quấn các lõi dây đồng lại thành 04 cuộn. Nguyễn Mạnh C cất dao rọc giấy, kìm và kéo vào túi quần phía sau còn chiếc cuốc, đục và thanh kim loại hình chữ V Chiến bỏ lại trong nhà điều hành. Lúc này khoảng 05 giờ ngày 08/3/2023, Nguyễn Mạnh C xách các cuộn dây đồng đi đến trạm biến áp, lấy nốt 04 cuộn dây đồng đã trộm trước đó đem về nhà ở khu N, thị trấn H, huyện H.
Khi về đến nhà, Nguyễn Mạnh C lấy một thùng bìa cát tông để đựng 05 cuộn dây đồng, 03 cuộn còn lại, Chiến cho vào một túi xách bằng vải tối màu. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Nguyễn Mạnh C lấy túi xách và thùng bìa cát tông đựng các cuộn dây đồng đem đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Đào Thùy Linh ở khu An Thịnh, thị trấn H, huyện H bán được 2.350.000 đồng, Chiến đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2023 và số 18/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tổng trị giá tài sản do Nguyễn Mạnh C trộm cắp là 20.017.500 đồng, trong đó 7,5m dây cáp điện lõi đồng loại 3C x 70 SQMM + 1C x 35 SQMM có trị giá 3.997.500 đồng; 22,5m dây cáp điện lõi đồng loại 3C x 95 SQMM + 1 x 50 SQMM có trị giá 16.020.000 đồng. Tổng trị giá tài sản do Nguyễn Mạnh C làm hư hỏng là 1.810.000 đồng gồm chi phí sửa chữa 11,25 m2 nền nhà phủ đá Granito là 1.800.000 đồng; 01 ổ khóa Việt Tiệp có giá 10.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án đã tạm giữ: 15m vỏ dây cáp điện; 01 chiếc cuốc; 01 thanh kim loại hình chữ V; 01 ổ khóa Việt Tiệp; 01 chiếc đục bằng kim loại; 01 mũ lưỡi trai; 01 đôi giầy vải; 01 chiếc quần bò và 01 chiếc áo khoác.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố và nhất trí bồi thường thiệt hại theo các yêu cầu của các bị hại; tuy nhiên do bị cáo hiện không có tài sản riêng và gia cảnh khó khăn nên chỉ có thể bồi hoàn cho các bị hại sau khi chấp hành án xong.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện H ông Hoàng Văn L xác nhận lời khai của bị cáo đúng thực tế và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.997.500 đồng. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty Đ ông Bùi Đắc T xác nhận lời khai của bị cáo đúng thực tế và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.830.000 đồng (trong đó tiền thiệt hại dây cáp điện lõi đồng là 16.020.000 đồng và chi phí sửa chữa tài sản bị hư hỏng là 1.810.000 đồng).
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo do không có tài sản riêng.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu hủy 15m vỏ dây cáp điện, 01 ổ khóa Việt Tiệp do không còn giá trị sử dụng; 01 chiếc cuốc, 01 thanh kim loại hình chữ V; 01 chiếc đục bằng kim loại; 01 mũ lưỡi trai; 01 đôi giầy vải; 01 chiếc quần bò và 01 chiếc áo khoác màu đen là công cụ phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh C có nghĩa vụ bồi thường cho Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện H số tiền 3.997.500 đồng và bồi thường cho Công ty Đ số tiền 17.830.000 đồng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi Đảng và Nhà nước vì đã vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng bà Đoàn Thị Ánh P, bà Đào Thùy Linh và ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án; việc xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
Lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người làm chứng, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp và đã thẩm tra tại phiên toà. Đủ căn cứ xác định: Đêm ngày 07/3/2023 đến rạng sáng ngày 08/3/2023, Nguyễn Mạnh C đã thực hiện hành vi trộm cắp 7,5m dây cáp điện lõi đồng của Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện H và 22,5m dây cáp điện lõi đồng của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đ. Tổng trị giá tài sản do Nguyễn Mạnh C trộm cắp là 20.017.500 đồng.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng không lao động chân chính mà đã thực hiện hành vi, lợi dụng đêm tối vắng người, sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 20.017.500 đồng với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và sự hoang mang, lo lắng đối với người dân trên địa bàn.
Tại bản án số 09/2015/HS-ST ngày 21/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng xử phạt bị cáo 24 tháng tù, bồi thường dân sự 12.500.000 đồng về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017) tiếp đến tại bản án số 81/2018/HS-ST ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng xử phạt bị cáo 02 năm 6 tháng tù, bồi thường dân sự 5.000.000 đồng về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2021), các bản án đều chưa được xóa án tích do bị cáo chưa thi hành bồi thường dân sự, án phí. Tại bản án xét xử lần thứ hai đã áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự được xác định là tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm.
Đảm bảo căn cứ kết luận Nguyễn Mạnh C đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
.....
g) Tái phạm nguy hiểm.
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Để xem xét quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nêu trên thì cần phải xem xét đến nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cụ thể:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân không tốt: Từ năm 2014, bị cáo đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đều về hành vi trộm cắp tài sản; mặc dù đã chấp hành xong nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm cùng loại tội thể hiện thái độ coi thường, bất chấp pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt chính: Nguyễn Mạnh C nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài là vi phạm quy định của pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp. Tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm, gây nguy hại cho xã hội trong khi chỉ có một tình tiết giảm nhẹ; Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian dài nhất định, áp dụng trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với tội danh, đủ thời gian để bị cáo lao động, cải tạo, rèn luyện tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh ngày 21/3/2023, thể hiện Nguyễn Mạnh C không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền do không khả thi trong công tác thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh C đã thỏa thuận, nhất trí bồi thường cho các bị hại: Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện H và Công ty Đ theo yêu cầu thiệt hại tài sản tại kết luận định giá là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với kết quả định giá thực tế nên cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy: 15m vỏ dây cáp điện; 01 chiếc cuốc; 01 thanh kim loại hình chữ V; 01 ổ khóa Việt Tiệp; 01 chiếc đục bằng kim loại; 01 mũ lưỡi trai; 01 đôi giầy vải; 01 chiếc quần bò và 01 chiếc áo khoác là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
Con người, sự việc liên quan: Đối với chị Đào Thùy Linh là người mua số dây đồng do bị cáo Nguyễn Mạnh C trộm cắp được, tuy nhiên không biết đây là tài sản do phạm tội mà có vì khi mua đã hỏi nguồn gốc và bị cáo nói dối là tài sản của mình nhưng bị hỏng hoặc không sử dụng nữa nên mang đi bán sắt vụn, do đó không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự. Đối với việc chị Đào Thùy Linh bán số dây đồng cho một người khác, không rõ họ tên, địa chỉ; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng đã ra thông báo truy tìm vật chứng, nhưng hiện chưa có kết quả nên không có căn cứ xem xét, giải quyết trong cùng vụ án.
Đối với hành vi sử dụng thanh kim loại hình chữ V phá khóa cửa và dùng cuốc đào nền Granito, gây thiệt hại về tài sản số tiền 1.810.000 đồng; do mục đích của Nguyễn Mạnh C là để lấy trộm tài sản, không nhằm mục đích hủy hoại tài sản và bị hại không có yêu cầu xem xét, xử lý.
Quan điểm đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị trong lời nói sau cùng của bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án và cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch tương ứng số tiền phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tội danh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội trộm cắp tài sản.
2. Hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/3/2023.
3. Nghĩa vụ dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa:
3.1. Bị cáo Nguyễn Mạnh C có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông huyện H, tỉnh Lạng Sơn số tiền 3.997.500đ (ba triệu chín trăm chín mươi bẩy nghìn năm trăm đồng).
3.2. Bị cáo Nguyễn Mạnh C có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đ số tiền 16.020.000đ (mười sáu triệu, không trăm hai mươi nghìn đồng) do tài sản bị thiệt hại và số tiền 1.810.000đ (một triệu, tám trăm mười nghìn đồng) do tài sản bị hư hỏng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành (các bị hại) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành (bị cáo Nguyễn Mạnh C) không chịu trả hoặc chậm trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền phải thi hành theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, trường hợp không thỏa thuận được và có tranh chấp thì được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Xử lý vật chứng.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 15m vỏ dây cáp điện bằng nhựa, màu đen loại 3C x 95 SQMM + 1 x 50 SQMM và 3C x 70 SQMM + 1C x 35 SQMM.
- 01 chiếc cuốc có cán bằng gỗ dài 98cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 18cm, bản rộng nhất 15cm; 01 thanh kim loại hình chữ V dài 2,2m, rộng 4,5cm; 01 ổ khóa Việt Tiệp, phần chốt khóa bị bật khỏi vị trí cố định.
- 01 chiếc đục bằng kim loại, dài 14 cm, bản rộng nhất 02 cm; 01 mũ lưỡi trai màu trắng; 01 đôi giầy vải màu đen; 01 chiếc quần bò màu đen và 01 chiếc áo khoác màu đen
(Vật chứng có các đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 06/4/2023).
5. Án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.091.000đ (một triệu, không trăm chín mươi mốt nghìn đồng, đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Cường |