vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 04/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 30/11/2022 (ngày ba mươi, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai); Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn D bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 04 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Phước Công;

Ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 111/TB-TA ngày 20 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1) Nguyễn Văn N, sinh ngày 29/6/1997; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn) 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Huỳnh Thị Bé B; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: không,

Tiền sự: 01 lần. Ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, thời gian 21 tháng, kể từ ngày 25/7/2020, chấp hành xong ngày 25/4/2022;

Nhân thân: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, học đến lớp 05 nghỉ.

Bị tạm giữ ngày 30/11/2022, chuyển tạm giam 06/12/2022 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa. 2) Nguyễn Văn D, sinh năm 1995; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn) không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Kim T; vợ Phạm Thị Trà M. Tiền án: không, Tiền sự: không; Nhân thân: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, không được đi học. Bị bắt tạm giam ngày 08/3/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Võ Quốc V, sinh ngày 18/3/1997; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Đã chết ngày 03/11/2019). Người thừa kế tham gia tố tụng gồm: + Cha là: Ông Võ Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; + Mẹ là: Bà Ngũ Bạch P, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1) Ông Nguyễn Lâm X, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; 2) Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; 3) Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; 4) Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; 5) Ông Phạm Văn Tùng, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng: 1) Ông Pha V, sinh năm 1996; vắng mặt; 2) Bà Phạm Thị N, sinh năm 1963; vắng mặt; 3) Ông Trần Trúc L, sinh năm 1974; vắng mặt; 4) Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964; vắng mặt; 5) Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1997; vắng mặt; 6) Bà Lê Kim T, sinh năm 1975; có mặt; 7) Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1959; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/02/2015, Nguyễn Văn N, Nguyễn Lâm X (anh ruột của N), Nguyễn Văn H uống nước tại quán của Nguyễn Văn S ngụ ấp M, xã M, huyện C. Tại đây, X nói cho N và H biết việc X bị Nguyễn Hữu T, N, C, Đ, Ng (chưa rõ họ, địa chỉ cụ thể) đánh, rồi rủ N, H đi đánh T và nhóm của T thì tất cả đồng ý. Biết T và nhóm của T thường chơi game ở tiệm của Phạm Thị N, ngụ cùng ấp, nên khoảng 12 giờ cùng ngày, N, X, H cùng đi bộ đến tiệm game của N, trên đường đi mỗi người nhặt lấy 01 đoạn gỗ bạch đàn ở cặp lề đường đem theo để đánh nhau. Khi đến tiệm game, X và H đứng ngoài đường, N đi vào tiệm game kêu T ra nói chuyện nhưng T sợ bị đánh nên bỏ chạy lên lầu lẫn trốn, N, X, H đi về, thì N gặp Nguyễn Văn D kể lại sự việc X bị T và nhóm của T đánh và rủ đến tối cùng nhau đi đánh T và nhóm của T, thì D đồng ý.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N, X, H, Phạm Văn T, Lê Hữu L, đang uống nước tại quán của S, thì X tiếp tục kể lại việc bị T và nhóm của T đánh và rủ cả nhóm đi đánh trả thù, thì tất cả đồng ý. N, X, T, L cùng đi đến tiệm game của Nguyễn Văn H, ngụ cùng ấp (điểm hẹn gặp nhau của nhóm) gặp D, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn T đang chơi game, nên N tiếp tục rủ những người này cùng đi đánh trả thù cho X, thì tất cả đồng ý. Khi này, D nói với N “đợi tao lấy đồ”, rồi D đi xuống bãi gạch cạnh bờ sông đối diện tiệm game của H lấy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 70cm, lưỡi dao dài 49cm, rộng 03cm, cán dao dài 21cm, đường kính 2,7cm (do trước đó đã hẹn với N đi đánh nhau, nên D chuẩn bị sẵn cây dao) mang theo. Trên đường đi, N kêu D đưa cây dao tự chế cho N cất giấu trong người, còn D lấy 01 vỏ chai bia loại Sài Gòn đỏ ở sau nhà người dân để vào túi áo khoác mang theo để đánh nhau, riêng P1 lấy 01 chai bia (bên trong có nước bia), khui nắp uống hết nước bia trong chai, rồi cất giấu vỏ chai bia cạnh nhà người dân cách tiệm game của N khoảng 6m, mục đích để sử dụng khi có đánh nhau. X cũng mang theo 01 cây dao Thái Lan dài 21,5cm, lưỡi dao dài 11cm, rộng 03cm, cán dao dài 10,5cm, nhưng không nhớ ai đưa.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, tại tiệm game của N, thì gặp Võ Quốc V - Sinh ngày 18/3/1997, ngụ ấp M, xã M, đội nón bảo hiểm (loại nón Sơn) màu trắng, đang ngồi trên xe môtô trước cửa rào của tiệm, X đến hỏi V “có thấy thằng T không”, V trả lời “không thấy”. Khi này, X thấy Cao Ngọc P từ trong tiệm game đi ra, X liền đi đến nói “hồi tối mày đánh tao nè”, vừa nói xong X dùng tay rồi ôm cổ, đánh đấm vào mặt P nhiều cái, thì V xuống xe dùng tay ôm cổ X từ phía sau kéo ra không cho đánh P, nên P bỏ chạy. N thấy V vẫn còn ôm và câu cổ X, cho rằng V “can đểu” và biết V là nhóm của T đánh X, nên N lấy cây dao tự chế cầm trên 02 tay, hỏi V “mày buông ra không”, V vừa trả lời “tao can mà” thì N cầm dao trên 02 tay chém 01 cái (bề lưỡi dao) từ trên xuống trúng vào đầu V đang đội nón bảo hiểm, Việt buông X ra, đứng đối diện với N thì N cầm dao trên 02 tay chém tiếp 01 cái (bề lưỡi dao) từ trên xuống trúng vào đầu V, làm nón bảo hiểm của V bị vỡ, rớt xuống đường, đang lúc V khom người nhặt nón thì N cầm cây dao trên tay trái chém (bề sống dao) theo hướng từ trên xuống, từ trái qua phải vào vùng đầu bên phải của V thì V đưa tay phải lên đỡ, liền lúc này D đứng phía sau V cầm vỏ chai bia trên tay phải đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào vùng đầu bên phải của V làm vỡ vỏ chai bia, V bị té ngã. Khi này, X đến đỡ V lên và hỏi “có sao không”, V trả lời “bộ tụi mày muốn giết tao hả”, X nói “có đâu, mày khùng quá”, V bỏ chạy vào tiệm game, ngất xỉu, được gia đình đưa đến bệnh viện cấp cứu, điều trị, đến ngày 05/3/2015 ra viện. Riêng, N bỏ trốn đến ngày 30/11/2022 ra đầu thú. Vật chứng thu giữ: 01 nón bảo hiểm màu trắng, phía sau nón có dòng chữ “NÓN SƠN”; 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 70cm, lưỡi dao dài 49cm, rộng 03cm, cán dao dài 21cm, đường kính 2,7cm; 01 cây dao Thái Lan dài 21,5cm, lưỡi dao dài 11cm, rộng 03cm, cán dao dài 10,5cm. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 176/15/TgT ngày 20/4/2015 của Tổ chức giám định pháp y và pháp y tâm thần tỉnh An Giang đối với Võ Quốc V, ghi nhận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não, dập não, xuất huyết não thái dương phải, nứt sọ thái dương phải, sa sút trí tuệ. 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 25%. * Công văn số 04/TLo-TTPY ngày 20/02/2023 của Trung Tâm pháp y tỉnh An Giang, về việc cung cấp thông tin vụ Võ Quốc V: Thương tích: chấn thương sọ não, dập não, xuất huyết não thái dương phải, nứt sọ thái dương phải.

- Thương tích của Võ Quốc V do vật tày gây nên.

- Nứt sọ + dập não, đây là dạng tổn thương do đầu bị vật tày cứng tác động mạnh (hoặc đầu va đập mạnh vào vật tày cứng). Da đầu không rách, khả năng thiết diện của vật gây tương đối nhẵn và có diện tiếp xúc khá rộng: Chai bia còn nguyên tác động vào đầu là phù hợp.

- Sống của thanh dao tự chế là vật tày có cạnh (không sắc), khi tác động vào đầu nếu gây nên thương tích sẽ gây tổn thương ngoài da theo đường thẳng, có in hình của nó và không thể gây dập não: Sống của thanh dao tự chế chém là không phù hợp.

- Do thời điểm năm 2015 Trung tâm pháp y chưa có máy ảnh, nên không có bản ảnh. * Công văn số 08/TLo-TTPY ngày 24/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, về việc cung cấp thông tin vụ Võ Quốc V:

Việc N cầm dao tự chế chém liên tục 02 cái lên đầu V (lúc đó V có đội nón bảo hiểm, làm vỡ nón bảo hiểm) có khả năng gây chấn động não và tổn hại sức khỏe của V.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSCM ngày 24 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn D thừa nhận thực hiện hành vi cố ý gây thương tích như Cáo trạng truy tố, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;

- Bị cáo Nguyễn Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;

Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 cây dao tự chế bằng kim loại; 01 cây dao Thái Lan;

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, thể hiện: Ngày 25/02/2015, bị cáo N dùng dao tự chế chém vào đầu bị hại V và bị cáo D dùng vỏ chai bia đánh vào đầu bị hại V, dao, vỏ chia bia là phương tiện nguy hiểm. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, về hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có lợi hơn so với khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với người phạm tội, nên hành vi phạm tội của Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D được xử lý theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như đã viện dẫn ở trên. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi của bị cáo nhận thấy: [3.1] Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N là người chưa thành niên, bị cáo D là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức, lẽ ra phải chấp hành đúng quy định của pháp luật, phải biết kiềm chế bản thân, trái lại bị cáo tỏ ra hung hăng “phương tiện nguy hiểm" để gây thương tích cho người khác, cho thấy hành vi của các bị cáo là cố ý phạm tội và rất nguy hiểm. Hành vi đó cần phải nghiêm trị để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật và tính mạng, sức khỏe của người khác. [3.2] Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm, tuy nhiên không có sự câu kết, tổ chức phân công chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo D là người thành niên, được bị cáo N là người chưa thành niên rủ đi đánh nhau thì bị cáo D đồng ý ngay mà không có sự khuyên ngăn mà cùng thực hiện cho nên phải cùng chịu trách nhiệm. Mặt khác, thương tích của bị hại phần lớn do chai bia bị cáo D gây nên, bị cáo D là người thành niên, được bị cáo N là người chưa thành niên rủ đi đánh nhau thì bị cáo D đồng ý ngay mà không có sự khuyên ngăn cho nên bị cáo D phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N. Bị cáo N vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên cho nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: [4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; đối với bị cáo N có 01 tiền sự, chưa có tiền án, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về vật chứng:

- 01 nón bảo hiểm màu trắng, phía sau nón có dòng chữ “NÓN SƠN” của người bị hại. Vật chứng này là vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 70cm, lưỡi dao dài 49cm, rộng 03cm, cán dao dài 21cm, đường kính 2,7cm và 01 cây dao Thái Lan dài 21,5cm, lưỡi dao dài 11cm, rộng 03cm, cán dao dài 10,5cm bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và là vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về dân sự: ông Võ Văn T, bà Ngũ Bạch P (cha, mẹ ruột của V) là người thừa kế của bị hại V, yêu cầu xử lý hình sự người gây thương tích cho V, không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét đến.

Đối với các hành vi khác:

- Đối với Nguyễn Lâm X, do biết trước đó Việt không tham gia đánh X, nên từ ban đầu khi gặp V thì X đã không đánh V, cũng không tham gia cùng N và D đánh V, nên X không chịu trách nhiệm đối với thương tích của V; riêng, X dùng tay đánh P bị thương tích nhẹ, P không yêu cầu xử lý hình sự, nên Cơ quan điều tra không xử lý.

- Đối với Phạm Văn T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn H, Lê Hữu L có đi cùng với X, N, D. Nhưng khi đến, thấy chỉ có V và P, nên họ chỉ đứng ngoài, không tham gia đánh V và P, ngoài ra việc N và D cầm theo hung khí để đánh V thì họ không biết, nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 30/11/2022 (ngày ba mươi, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai);

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/3/2023 (ngày tám, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba). 2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu huỷ: 01 nón bảo hiểm màu trắng, phía sau nón có dòng chữ “NÓN SƠN”; 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 70cm, lưỡi dao dài 49cm, rộng 03cm, cán dao dài 21cm, đường kính 2,7cm; 01 cây dao Thái Lan dài 21,5cm, lưỡi dao dài 11cm, rộng 03cm, cán dao dài 10,5cm. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang). 3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ